Sáng tháng 5, Hà Nội gặp tiết trời mát mẻ, tôi tìm đến nhà Trung tướng Nguyễn Hải Bằng ở một ngách phố Trần Phú. Trong căn phòng đơn sơ, vị tướng kinh qua trận mạc vẫn rất khiêm tốn khi tôi gặng ông nhớ lại những kỷ niệm của một thời trai trẻ.
14 tuổi, "cậu bé" Nguyễn Hải Bằng đã đứng trong hàng ngũ những người lính chiến đấu ở mặt trận Hà Nội và đến khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, trong trận đánh đồi A1, chàng thanh niên 21 tuổi ấy đã là đại đội trưởng Đại đội 315 thuộc Tiểu đoàn 249, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316.
“Đồi A1 là cứ điểm mạnh trong thế trận phòng thủ lòng chảo của quân Pháp, cách trung tâm Mường Thanh khoảng 400m về hướng Đông Nam. Nếu ta làm chủ được đồi A1 thì sẽ khống chế được toàn bộ quân địch nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết tâm đánh bằng được A1. Phía quân địch, chúng cũng quyết giữ bằng được điểm cao quan trọng này. Do vậy, cuộc chiến đấu trên đồi A1 diễn ra suốt hơn một tháng (từ 30-3-1954 đến 14 giờ 30 phút, ngày 7-5-1954), ta và địch giành giật nhau từng ly đất”. Trung tướng Nguyễn Hải Bằng tóm tắt trận đánh ngắn gọn như vậy nhưng gương mặt, giọng nói của ông bỗng chùng lại. Dường như có những giọt nước mắt khẽ lăn nơi khoé mắt, tôi hiểu, đây có lẽ là trận đánh kéo dài thời gian nhất trong suốt cả cuộc đời lăn lộn ở khắp các chiến trường của ông. Hơn một tháng trời ấy, hết Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đến Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) thay nhau công kích đồi A1, thương vong của bộ đội cũng lớn mà chưa giải quyết được bởi vũ khí, trang bị của địch mạnh hơn hẳn ta. Chúng có pháo binh, xe tăng, không quân hỗ trợ tối đa, trong khi quân ta chỉ có pháo binh (không thật nhiều) là hoả lực mạnh. Nhưng bù lại, tinh thần chiến đấu và trí mưu lược của Bộ đội Cụ Hồ đã làm nên chiến thắng vĩ đại "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Trung tướng Nguyễn Hải Bằng nhớ lại:
- Lúc ấy, hình ảnh khái quát của bộ đội ta "mưa dầm, cơm vắt" là chủ yếu nhưng những đơn vị ở tuyến trong cùng (giáp mặt với địch) được cấp trên ưu tiên hơn. Bộ đội có cơm gạo, thứ gạo quý của đồng bào Tây Bắc nhưng chỉ chấm với muối giềng, ăn mãi rất nóng cổ. Thế nhưng, tinh thần của bộ đội thì thật tuyệt vời, cả mặt trận hừng hực khí thế quyết tâm.
Có một ví dụ mà tôi đọc được trong hồi ký của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đôn Tự (Tiểu đoàn 255, Trung đoàn 174) đó là khi cấp trên yêu cầu mài xẻng thật sắc để đào công sự được nhanh, chiến sĩ ta đã biến thành khẩu hiệu "Mài xẻng sắc cạo râu được". Thế nên trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thật dễ hiểu vì sao có những Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện... không tiếc thân mình. Nói về đồng đội trên chiến trường, Trung tướng Nguyễn Hải Bằng thật sự xúc động. Nhiều lần ông phải dừng lại mới tiếp tục câu chuyện và ông nghẹn lời khi nhắc tới sự hy sinh của chính trị viên đại đội Bật hay của chiến sĩ liên lạc Chấn... trong gian khổ, hy sinh, lớp người này ngã xuống, người khác xông lên để giành thắng lợi cuối cùng.
Thế rồi tiếng nổ quả bộc phá ngót 1.000kg làm hiệu lệnh tiến công, Trung đoàn 174 kết thúc số phận cứ điểm đồi A1 lúc 14 giờ 30 phút, ngày 7-5-1954. Các đơn vị bạn cũng xông lên, tiêu diệt quân địch, bắt sống Đờ Cát-tướng chỉ huy quân Pháp tại Điện Biên Phủ...
NGÔ ANH THU