QĐND - Vào một ngày đầu xuân Tân Mão, chúng tôi có dịp đến thăm ông, một người cựu tù chiến thắng trở về từ nhà tù Phú Quốc (Kiên Giang). Ông kể cho chúng tôi nghe về trận đánh cầu Bình Triệu (Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) và những ngày bị đế quốc Mỹ cùng lũ tay sai tra tấn dã man tại nhà tù đó.
Ông là Ngô Văn Cỡ, sinh năm 1943, quê ở Đông Ba, Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương. Mới 17 tuổi, ông đã tham gia bộ đội giải phóng Tiểu đoàn Phú Lợi, tỉnh Bình Dương. 19 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1963, ông được cử đi học khóa huấn luyện đặc công rồi được điều về Đại đội đặc công 606, trực thuộc Quân khu 7. Ông kể: “Sau khi được bổ sung vào C606, tôi và đồng đội đã tham gia đánh địch ở khắp chiến trường miền Nam. Trong một lần không may, tôi bị bắt, tra tấn dã man tại nhà tù Phú Quốc”.
 |
|
Cựu chiến binh Ngô Văn Cỡ (bên phải) bên những người bạn già.
|
Tháng 4-1968, trên cương vị trung đội trưởng, ông chỉ huy một tổ 6 người phối thuộc với Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Đồng Nai tấn công cầu Bình Triệu. Đây là cây cầu rất quan trọng, nối liền giao thông giữa Sài Gòn với các tỉnh miền Đông. Vì vậy, bọn giặc kiên quyết bảo vệ chiếc cầu trọng yếu này. Chúng bố trí 3 đại đội thủy quân lục chiến, 3 tàu chiến dưới sông Sài Gòn chuyên tuần tiễu. Trên bờ, lô cốt, chốt chặn được dựng lên rất nhiều hai bên đầu cầu. Dưới sông, chúng bố trí 5 lớp hàng rào kẽm gai ngầm dưới mặt nước. Sau những đêm đi trinh sát nắm địch, tổ của ông được trang bị một số loại vũ khí đặc công, đã kéo 100kg thuốc nổ TNT dưới đám bèo lục bình tiến về cầu Bình Triệu. Đúng 12 giờ đêm 10-4-1968, tổ của ông cắt xong lớp rào thứ 4 thì bị lộ. Tiểu đoàn 1 phía sau không kịp triển khai đội hình, nên không tiếp ứng được. Địch bắn xối xả vào đội hình của tổ khiến 5 đồng chí hy sinh. Còn riêng ông bơi về hướng Đông cách đó không xa thì bị chúng bắn trọng thương vào ngực trái và bị bắt…
Ông kể tiếp: “Tại nhà tù Phú Quốc, tôi bị chúng tra tấn rất dã man. Chúng cho điện giật, rút móng chân, móng tay, đóng đinh vào tai, tay và nhiều cực hình khác, nhưng tôi quyết không khai nửa lời. Đến 15-3-1973, tôi được thả theo Hiệp định Pa-ri”.
Cho dù trận đánh của tổ đặc công do ông chỉ huy thất bại, nhưng để lại tiếng vang lớn trong phong trào kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó cũng là tiền đề để các phong trào kháng chiến sau này nổ ra rầm rộ hơn. Và điều quan trọng, ông đã chứng tỏ được bản lĩnh trung kiên của người chiến sĩ đặc công: Quyết tử vì Tổ quốc quyết sinh.
Sau khi về hưu năm 1982, ông tích cực tham gia công tác xã hội, tri ân đồng đội, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trên chính quê hương mình, nơi mà những chiến sĩ Tiểu đoàn, Trung đoàn Đồng Nai và những đồng đội năm xưa của ông đã ngã xuống.
Bài và ảnh: HÀ THIỆN HÙNG