Từng ấp ủ từ hồi còn chập chững với nghề cầm bút, phải đến hơn chục năm sau, mong muốn đến thăm Đoàn Nghi lễ Quân đội của tôi mới thành hiện thực. Mong muốn bởi lẽ, mỗi lần xem thời sự trên Đài Truyền hình Việt Nam, được chứng kiến nghi thức đón chào nguyên thủ các quốc gia tại Phủ chủ tịch nước, tôi vô cùng ấn tượng, cảm kích khi giai điệu hùng tráng, hào sảng của bài Quốc ca được vang lên từ đội quân nhạc oai nghiêm và đội hình ngay hàng thẳng lối với những gương mặt chiến sĩ trẻ măng, đĩnh đạc, rạng rỡ bồng súng lưỡi lê sáng loáng của Đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một ngày đầu tháng tám, len lỏi qua dòng người chật như nêm của mấy đoạn phố Hà Nội, vừa bước vào doanh trại Đoàn Nghi lễ Quân đội, tôi không còn cảm giác ngột ngạt bởi khuôn viên doanh trại đơn vị khá rộng rãi, thông thoáng. Nhưng không như các đơn vị khác thường có một không khí yên lặng trong giờ hành chính, Đoàn Nghi lễ Quân đội khá tập nập và ồn ào do âm thanh tiếng trống, tiếng kèn, tiếng thanh la đan xen, hòa quyện vào nhau cùng vang lên từ căn phòng luyện tập chuyên môn âm nhạc. Còn ở ngoài sân, cán bộ và chiến sĩ Phân đội danh dự đang luyện tập đội ngũ với những tiếng hô điều lệnh to, khỏe, dõng dạc, dứt khoát.

- Nghiêm, nhìn bên phải, chào!

Đại úy Vũ Đình Thành, Đại đội trưởng Đại đội 3 (Phân đội danh dự) vừa dứt khẩu lệnh, như một phản xạ tự nhiên, các chiến sĩ danh dự trong tư thế nghiêm trang, nhất loạt bồng súng lên, cùng hướng mắt về mũi lê sáng loáng. Chỉ trong giây lát, hàng trăm chiến sĩ nhất cử, nhất động thực hiện động tác theo khẩu lệnh của người chỉ huy một cách thuần thục. Những tia nắng tháng tám “rám trái bưởi” chát chao hắt xuống sân nền xi măng khiến cho sân tập điều lệnh như rang trên chảo lửa. Trong bộ trang phục danh dự với đủ dây đai, cầu vai, huân huy chương, găng tay, giày tất cao tới đầu gối khiến những giọt mồ hôi thấm trên cơ thể người chiến sĩ càng mặn mòi hơn.

Lúc nghỉ giải lao, anh Thành chia sẻ với tôi:

- Mỗi động tác, cử chỉ của chiến sĩ đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thống nhất và sức mạnh của Đội danh dự, do đó chúng tôi phải chú trọng rèn luyện tỉ mỉ cho mỗi người thực hiện các động tác điều lệnh răm rắp, chính xác đến độ tuyệt đối. Nếu việc luyện tập, diễn tập ở đơn vị nào đó, bộ phận nào đó sai sót vẫn có thể chấn chỉnh để rút kinh nghiệm. Riêng đối với Bộ đội danh dự, sai sót đồng nghĩa với không hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí ảnh hưởng đến vị thế quân đội và diện mạo quốc gia. Vì thế, trong quá trình huấn luyện, chỉ huy đơn vị luôn bám sát bộ đội, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và uốn nắn từng chi tiết nhỏ nhất để bảo đảm từ cử chỉ, ánh mắt, nét mặt đến các động tác thực hành của mỗi chiến sĩ trong Đội phải hội tụ đủ 4 yêu cầu là “Đúng, đều, mạnh, đẹp”.

Đội danh dự luyện tập đội ngũ.

Nói thì đơn giản thế, nhưng để huấn luyện thành một chiến sĩ danh dự, Đoàn Nghi lễ Quân đội phải kiên trì thực hiện một quy trình hết sức nghiêm túc, khoa học, nhất là khâu tuyển chọn và rèn luyện. Mỗi năm, Đoàn cử cán bộ đi thâm nhập thực tế từ 8 đến 10 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc để tuyển chọn những thanh niên có hình thức đẹp, với chiều cao tối thiểu là 1,8m, trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên, có lý lịch gia đình rõ ràng và phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng. Khi vào đơn vị, sau thời gian huấn luyện tân binh, các chiến sĩ bước vào huấn luyện nghiệp vụ nghi lễ. Việc huấn luyện này được chú trọng toàn diện cả về ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ, lễ tiết tác phong mẫu mực, thực hành các động tác nghi lễ thuần thục, bản lĩnh tâm lý vững vàng, sức khỏe bền bỉ dẻo dai và sẵn sàng nhận, thực hiện nhiệm vụ vô điều kiện.

Để có một đội hình nghi lễ chuẩn mực, chính quy, đúng với tên gọi “Đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam”, đơn vị thường xuyên làm tốt 5 khâu liên hoàn là: Luyện tập, kiểm tra, hợp luyện, tổng duyệt và thừa hành nhiệm vụ. “Cả 5 khâu đó phải gắn kết chặt chẽ với nhau như một “dây chuyền công nghệ khép kín” mà mỗi khâu là một mắt xích, thiếu hoặc trục trặc ở một mắt xích nào đều dẫn đến những kết quả không tốt”. Sau khi ví von khá hình ảnh như vậy, Đoàn trưởng - Đại tá Ngô Chí Doanh, nguyên Đội trưởng Đội danh dự nổi tiếng một thời, giải thích với tôi:

- Luyện tập phải chặt chẽ, kiểm tra phải chu đáo, hợp luyện phải nhịp nhàng, tổng duyệt phải toàn diện thì mới thực hiện tốt yêu cầu nhiệm vụ đón khách cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội. Mỗi lần hành quân ra Phủ chủ tịch nước đón khách quốc tế, trước giờ G, chúng tôi phải kiểm tra từng chiến sĩ rất sát sao, tỉ mỉ từ cái nếp quần, cúc áo, vị trí đeo huân huy chương đến đầu tóc, móng tay và độ bóng sạch của mỗi đôi giày... Làm những việc chi tiết như thế không ngoài mục đích tôn lên vẻ đẹp chính quy, thống nhất của người chiến sĩ danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thượng tá Nguyễn Phương Đông, Phó tham mưu trưởng Đoàn Nghi lễ Quân đội đã có 5 năm trên cương vị Đội trưởng Đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh tâm sự rằng, mỗi lần được đứng trong khuôn viên Phủ chủ tịch nước chào báo cáo các nguyên thủ quốc gia trên thế giới đến thăm Việt Nam, anh vô cùng phấn khởi, tự hào và cũng rất hồi hộp. Vì theo anh, mỗi lần làm nhiệm vụ đón khách, bản thân không còn là “của riêng” mình nữa, mà đó là danh dự, là diện mạo, là vị thế của cả quốc gia dân tộc Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam. Và đối với mỗi chiến sĩ trong Đội danh dự cũng vậy. Khi đứng trong hàng ngũ những người lính mang hai chữ “Danh Dự” thiêng liêng, họ đã thuộc về Quân đội, thuộc về Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Do đó, khi đã được tuyển chọn vào “đội hình đặc biệt” này, từ người Đội trưởng đến mỗi chiến sĩ đều phải hết lòng, hết sức với công việc nghi lễ quan trọng mà Đảng, Nhà nước và Quân đội đã giao phó. Mỗi lần đón nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo, chỉ huy cấp cao của quân đội các nước đến thăm nước ta, đơn vị luôn coi đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt phải thực hiện đến nơi đến chốn, không được phép để xảy ra bất cứ một sai sót, sơ suất nào, cho dù là nhỏ nhất. Chỉ tính 5 năm trở lại đây, Đoàn Nghi lễ Quân đội đã đón theo nghi thức 127 lần các đoàn nguyên thủ Nhà nước và quân sự cấp cao đến thăm Việt Nam; phục vụ 8 lần lễ kỷ niệm lớn của đất nước và các sự kiện, hội nghị quốc tế quan trọng tổ chức ở nước ta, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế và nhân dân.

Đội quân nhạc hành quân ra làm lễ báo công dâng Bác trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 29-7-2010.

Nếu Đội danh dự là lực lượng nòng cốt góp phần làm nên vẻ đẹp oai phong, hùng dũng của Quân đội ta, thì Đội quân nhạc được coi là linh hồn đã tạo dựng “thương hiệu” cho Đoàn Nghi lễ Quân đội hơn 6 thập kỷ qua. Ra đời chỉ sau đúng một ngày cuộc Cách mạng tháng Tám thành công vang dội ở Thủ đô Hà Nội (19-8-1945), “Ban Âm nhạc Giải phóng quân” (tiền thân của Đoàn Nghi lễ Quân đội hiện nay) đã được thành lập để chuẩn bị lực lượng phục vụ cho Lễ Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Vào thăm Phòng truyền thống của Đoàn, những tấm ảnh đen trắng dù đã nhuốm màu nắng gió của thời gian, nhưng vẫn đủ để tôi nhận thấy Đội kèn đồng với 75 nhạc công của nước Việt Nam mới đã dàn thành 5 hàng ngang trước lễ đài cử hành bài Tiến Quân ca trong ngày Độc lập đầu tiên của nước nhà.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dù không trực tiếp ra mặt trận, nhưng những người lính kèn cách mạng cũng có một tinh thần “chiến đấu độc đáo”. Sự kiện ngày 20-7-1964 là một mốc son đáng nhớ trong lịch sử của Đoàn Nghi lễ Quân đội. Ngày đó, ngụy quyền Sài Gòn dự định chọn bờ nam cầu Hiền Lương để tổ chức kỷ niệm 10 năm ngày ký hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7-1954) với ý đồ chính trị thâm độc và phản động. Nhưng quân ta đã “tương kế, tựu kế” bằng cách bố trí một dàn quân nhạc với gần 100 nhạc công tại vị trí sát bờ bắc sông Bến Hải thổi những bài ca cách mạng vào mi-crô rồi phóng lên loa tăng âm cỡ lớn, tạo nên một dàn âm thanh cực đại “đánh” vào tai lũ địch phía bờ sông bên kia. Nghe thấy những giai điệu cách mạng thân quen, đồng bào ta ở bờ nam ra sông Bến Hải để cùng hướng về miền Bắc ruột thịt với tất cả niềm tin dành cho ngày chiến thắng và thống nhất non sông sẽ sớm trở về Tổ quốc Việt Nam.

Khi thăm phòng truyền thống của Đoàn, tôi thấy những chiếc dăm kèn, tăm-pông, rét-so đủ cỡ, đủ loại - những vật phẩm Bác Hồ mang từ Pháp về tặng Bộ đội Quân nhạc năm 1946. Đại tá Phạm Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Đoàn Nghi lễ Quân đội tâm sự:

- Trong điều kiện đất nước vừa giành được độc lập còn muôn vàn khó khăn, việc Bác Hồ tặng các chiến sĩ quân nhạc những phụ tùng kèn Tây ấy là một món quà vô giá. Không chỉ có vậy, Bác đã dành thời gian đến thăm, động viên và huấn thị nhiều điều tâm huyết đối với Bộ đội Quân nhạc. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Bác khẳng định: “Một đất nước độc lập, tự chủ không thể thiếu quân nhạc”. Bác còn dặn: “Các cháu phải ra sức đào tạo thêm nhiều người vào. Quân đội ngày càng trưởng thành, càng cần nhiều quân nhạc”; và: “Ông cha ta xưa có câu “Trống năng rèn, kèn năng thổi”. Bác mượn câu nói đó để nói với các cháu”. Những lời dạy đó của Bác đã trở thành phương châm hành động của Bộ đội Quân nhạc và Đoàn Nghi lễ Quân đội trong suốt 65 năm qua.

Ban Âm nhạc giải phóng quân với 75 nhạc công thổi kèn đồng thuở đầu nay đã phát triển thành 3 dàn quân nhạc với một đội hình “quân hùng tướng mạnh”, đủ sức đảm đương phục vụ những nghi lễ đón tiếp cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và những sự kiện văn hóa - thể thao quốc tế tổ chức chức tại Việt Nam. Dù không phải đứng hàng tiếng đồng hồ luyện tập ngoài sân trời nắng và thuần thục từng thao tác điều lệnh đến mức tuyệt đối như các chiến sĩ tiêu binh, danh dự, song các chiến sĩ - nghệ sĩ quân nhạc cũng phải kỳ công rèn luyện từ hơi thở, nhịp phách đến vóc dáng, quân dung, từ kỹ thuật cá nhân đến hợp luyện toàn đội hình tập thể để làm sao cho mỗi giai điệu quân nhạc khi vang lên như hội tụ được cả hồn sông, khí núi của một dân tộc với bề dày lịch sử hơn bốn ngàn năm và sức mạnh oai hùng của một quân đội cách mạng bách chiến bách thắng từng làm lay động tâm khảm của triệu triệu trái tim người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Sự nghiêm trang, hùng dũng, chuẩn mực của Bộ đội danh dự hòa quyện vào vẻ đẹp hùng tráng, oai phong của Bộ đội quân nhạc trong các hoạt động nghi lễ trọng đại đã trở thành một biểu tượng văn hóa cao đẹp của Quân đội ta, góp phần khẳng định vị thế ngày càng cao của dân tộc Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Ghi chép của NGUYỄN VĂN HẢI