LTS: Hội Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà văn và gia đình nhà thơ Phạm Tiến Duật vừa hoàn thành sách Phạm Tiến Duật toàn tập vào cuối tháng 4-2009. Toàn bộ số sách in lần này được tặng cho gia đình nhà thơ, như là món quà tri ân của các bạn viết và đông đảo bạn đọc đối với người thi sĩ mà tất cả chúng ta đều yêu mến và quý trọng.

Vì thế, những tổ chức, đơn vị và bạn đọc nếu muốn có cuốn sách này trên giá sách của mình, xin liên hệ với gia đình nhà thơ Phạm Tiến Duật theo địa chỉ: Nguyễn Thái Vân, số nhà 502-G2, khu Trung Tự, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Chúng tôi xin giới thiệu bài viết sau đây của nhà thơ Đỗ Trung Lai, người chủ biên cuốn sách này.

50 năm đã trôi qua, kể từ ngày Đại tá Võ Bẩm được Bác Hồ gặp và chính thức giao nhiệm vụ mở đường Trường Sơn đánh Mỹ - chính thức, thường xuyên, đêm ngày, chi viện sức người, sức của của hậu phương lớn miền Bắc, cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam, cho các chiến trường B, C, D, để đòi lại cho bằng được nền độc lập dân tộc và sự thống nhất đất nước.

50 năm ấy, từ con đường giao liên, gùi-thồ ban đầu, Đường mòn Hồ Chí Minh dần trở thành tuyến đường vận tải chiến lược, trở thành một "chiến trường đặc biệt” với hàng chục vạn con người, hàng vạn phương tiện cơ giới, vừa đánh địch vừa mở đường, tự bảo vệ mình để đảm bảo hậu cần và sinh lực, hỏa lực cho cả cuộc chiến tranh giải phóng. Và bây giờ, trong thời bình, nó đang trở thành "Đại lộ Hồ Chí Minh" xuyên suốt Bắc Nam, từ Pác Bó cho tới Cà Mau, đưa chúng ta đi tìm một tương lai giàu hơn, mạnh hơn, tốt hơn.

Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh cũng là con đường của tình hữu nghị bền chặt, thắm thiết, vĩ đại của nhân dân ba nước Đông Dương, và sẽ không chỉ thế.

Cha ông ta, trong quá trình mở nước và giữ nước, cũng đã nhiều lần đi lối miền Tây này: Quân Trần, quân Tây Sơn đã từng đi như thế. Thái úy Trần Quang Diệu từng được Quang Trung giao "mở lại thượng đạo" để cấp tốc ra Bắc đánh giặc, giống như năm 1975, chúng ta "thần tốc" vào Nam vậy.

Con Đường được viết hoa ấy, ý nghĩa của nó, không chỉ ta biết mà đối phương cũng biết.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật trong những năm tháng ở Trường Sơn. Ảnh tư liệu

Ta gọi đó là Con đường của ý chí Hồ Chí Minh-từ ngày còn ở Việt Bắc, Bác đã dặn các đồng chí của mình, khi ngỡ mình không qua khỏi cơn sốt rừng: Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, tự do cho Tổ quốc. Chúng ta đã "đốt cháy" nó thật, để Trường Sơn hóa thân thành con đường huyền thoại bậc nhất trong các con đường chiến tranh trên thế gian này.

Ta cũng gọi, đó là Con đường của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Biết bao trí não, sức lực, máu xương Việt và anh em, bè bạn, đã đổ xuống con đường này! Biết bao anh hùng, sự tích anh hùng, đã chói lọi từ con đường này!

Đối phương thì gọi nó là Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm. Arthur Meir Schelesinger, một học giả người Mỹ, viết: "Tháng 5-1966, sau 14 tháng ném bom, Bộ trưởng Mác Na-ma-ra (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời đó) nói rằng, tỷ lệ thâm nhập (của Việt cộng) có thể là gấp 3 lần năm trước; tháng 6 ông ta lại nói rằng, chi viện của cộng sản tăng lên 150% và thâm nhập quân đội tăng 120% so với năm trước, và mỗi tháng người ta lại nói với chúng ta rằng, tỷ lệ ấy tiếp tục tăng lên".

Van Geirt, người Pháp, từ năm 1971, đã viết: "Từ bao nhiêu năm nay, mấy danh từ này (Đường mòn Hồ Chí Minh) đã trở thành một câu nói mầu nhiệm để giải thích được tất cả, để tha thứ cho tất cả. Người ta (Mỹ) ném bom nước Lào, người ta xâm lược Cao Miên (Cam-pu-chia) vì Đường mòn Hồ Chí Minh đi qua đó... Đó không chỉ là con đường tiếp tế, nó là biểu tượng của cả cuộc chiến tranh Việt Nam. Nó là bàn tay bí mật chỉ đạo cuộc chiến... Đây là người mẹ trong gia đình, giấu mặt đi để các con được tuyên dương. Nó không muốn được khen thưởng mà chỉ muốn làm tròn nhiệm vụ của mình... Không có nó, chiến tranh (xâm lược) đã có thể kết thúc...".

Cũng Van Geirt kết luận: "Đối với Đường Hồ Chí Minh, muốn chiếm được nó, phải chiếm đóng trên mỗi milimet vuông của Lào, Cao Miên và cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam bằng tất cả quân đội của thế giới này may ra mới đủ!...".

Tựu trung, Đường mòn Hồ Chí Minh là cái tên mà 3 đời tổng thống Mỹ muốn xóa sạch đi trong cả tiềm thức lẫn trong thực tiễn của cuộc chiến tranh Đông Dương.

Đường mòn Hồ Chí Minh là nguyên nhân tạo ra sự bất đồng sâu sắc về chiến lược và cách đánh của Mỹ, những tranh cãi bất tận giữa chính giới Mỹ và giới quân sự của họ, để cuối cùng, Mỹ... thua!

Nhưng Đường Trường Sơn - Đường mòn Hồ Chí Minh, bằng ý nghĩa vĩ đại của nó, bằng phẩm chất anh hùng của nó, lại đẻ ra cả một đường thơ mà nhà thơ hay nhất của con đường ấy, là Phạm Tiến Duật.

Trong những ngày này, khi đang được Hội Nhà văn Việt Nam giao cho làm sách Phạm Tiến Duật toàn tập, chúng tôi lại càng thấy rõ điều đó. Các nhà nghiên cứu, các nhà văn, nhà thơ, cán bộ - chiến sĩ Trường Sơn cũ, giáo viên, sinh viên, học sinh và bè bạn anh Duật đã viết rất nhiều gửi về để làm Phần hai: Viết về Phạm Tiến Duật.

Có nhà thơ gọi anh Duật là "Người lĩnh xướng của dàn thơ chống Mỹ" (Vương Trọng). Nhiều người viết: "Đường Trường Sơn - Đường thơ Phạm Tiến Duật" (Thiếu Mai, Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Suyền…). Có người bảo, anh là một "Danh nhân Trường Sơn", bên cạnh các danh nhân - anh hùng khác của Trường Sơn. Có những chuyện về anh, về thơ anh, đã trở thành huyền thoại: Một đơn vị nhỏ bị vây lấn trên đồi, chịu bao nhiêu ác liệt và thiếu thốn. Khi được vô tuyến cấp trên hỏi, các anh cần gì nữa để giữ chốt, họ đã trả lời: "Chúng tôi chỉ cần thêm thơ Phạm Tiến Duật!". Và, đồng đội bên ngoài đã nhồi thơ Phạm Tiến Duật vào đạn cối để bắn lên chốt cho họ!

Có những người vào Trường Sơn công tác, giữa bốn bề thiếu thốn, nhưng chỉ vì biết anh Duật và nhớ được mấy câu thơ, mấy bài thơ của anh, mà lập tức trở thành khách quý, thành người nhà của bộ đội, của thanh niên xung phong Trường Sơn!

Hầu như không một cán bộ - chiến sĩ quân đội hay một người thanh niên xung phong nào, không thuộc ít dòng thơ, ít bài thơ của Phạm Tiến Duật. Rất nhiều người làm thơ thời ấy đã làm thơ theo "kiểu Phạm Tiến Duật" và chỉ những người có bản lĩnh thơ cao, sau này mới "thoát" ra được!

Chế Lan Viên khẳng định, Phạm Tiến Duật là một "hiện tượng" lớn, là người cách tân thơ, là người khai mở một thi pháp, "rất nhiều năm sau sẽ khó có thể thấy".

Xuân Diệu bảo: "Lão ô bách tuế không bằng phượng hoàng sơ sinh", ý muốn nói, Phạm Tiến Duật chính là một con "phượng hoàng" từ khi mới xuất hiện. "Phượng hoàng", vì đã vượt lên, tìm ra một hướng bay mới.

Vũ Quần Phương viết: "Từ nhiều đề tài khác nhau, thơ Phạm Tiến Duật đã rọi sáng vẻ đẹp chủ yếu của một thời kỳ đất nước: Vẻ đẹp của những người đứng giữa trận tiền".

Bạn văn chương nào - đồng lứa hay vong niên - cũng đều yêu mến, quý trọng, kính trọng tài thơ anh Duật.

Đỗ Chu viết: ..."Anh là một người lính làm thơ cho lính đọc, anh chưa bao giờ sắm vai người nói hộ, chưa bao giờ yêu hộ, khóc hộ, lo âu hộ... Anh luôn là người biết hát, dám hát, dám sống và viết như chính mình nghĩ thế, cảm thế, về những năm tháng mình đã qua... Phạm Tiến Duật đúng là người một đời cõng lửa. Đấy là ngọn lửa ấm của tình yêu cuộc sống, của thi ca sưởi ấm lòng người".

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, viết: "Dưới bầu trời sinh tử của chiến tranh, Phạm Tiến Duật đã làm một cuộc tự trải nghiệm, tự khám phá khắc nghiệt nhất và đã vươn lên làm một cuộc đột phá điển hình nhất, đưa thơ chống Mỹ lên đến đỉnh cao..., thơ anh mang đến cho bạn đọc niềm vui lớn như những tin thắng trận từ tiền tuyến lớn. Độc đáo và vụt sáng, đầy sức lay động và ấm áp ngay cả trong những lúc cay nghiệt nhất của chiến tranh, đó là vẻ đẹp của thơ Phạm Tiến Duật".

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ, nói: "Ngay khi đọc thơ Phạm Tiến Duật, tôi đã biết, đây là một nhà thơ lớn, rất lớn" v.v. và v.v..

Trong sổ tang nhà thơ Phạm Tiến Duật, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ viết: "...Anh - người con ưu tú của quê hương đất Tổ Hùng Vương. Cảm ơn anh đã làm rạng danh quê hương - mảnh đất cội nguồn...".

Ban Tuyên giáo Trung ương gọi anh là: "Nhà thơ - người chiến sĩ cách mạng Phạm Tiến Duật".

Tạp chí Văn nghệ Quân đội viết: "Anh - nhà thơ đỉnh cao, người anh, người bạn thân thiết của nhà số 4, Lý Nam Đế".

Lãnh đạo Thành ủy Hà Nội ghi: ..."Anh đã hiến dâng và để lại cho mọi người một tài sản vô cùng quý báu. Đó là những áng thơ thật tuyệt vời - cao đẹp, trong sáng như mây ngàn, như suối Trường Sơn của Tổ quốc".

Hội Cựu Thanh niên xung phong đề: "Hình ảnh của Nhà thơ trong những năm ở chiến trường Trường Sơn và những bài thơ của anh mãi mãi còn đậm trong lòng Thanh niên xung phong".

Hãng phim Hội Nhà văn gọi anh là "Ngọn cờ thơ chống Mỹ, cứu nước".

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên viết: "Đồng chí Phạm Tiến Duật - một nhà thơ nổi tiếng của nhân dân Việt Nam thuộc thời đại Hồ Chí Minh. Phạm Tiến Duật - một chiến sĩ, một nhà thơ đáng kính trọng của bộ đội, của Trường Sơn, của Đường Hồ Chí Minh. Phạm Tiến Duật không còn nữa. Nhưng tài sản thơ anh còn lại cho muôn đời cháu con của Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa...".

Tướng Võ Sở, nguyên Chủ nhiệm chính trị Binh đoàn Trường Sơn, viết: "Anh là người chiến sĩ văn học của Trường Sơn, đã cống hiến trọn tài sức, trí tuệ cho công cuộc chiến đấu ở Trường Sơn, cho Đường Hồ Chí Minh huyền thoại...".

Và, không biết bao nhiêu lời trân trọng khác, từ đồng nghiệp và đồng đội, từ bạn hữu và người hâm mộ, gửi theo "Con chim lửa Trường Sơn".

Quả thật là như thế. Thơ Phạm Tiến Duật đã vượt qua các đề tài cụ thể để trở thành một biểu tượng tinh thần của Trường Sơn chống Mỹ, của cả cuộc chống Mỹ, cứu nước; trở thành một bảo tàng tươi rói về Trường Sơn thời đó; là tấm gương soi gương mặt nội tâm của tuổi trẻ Việt Nam thời ấy. Từ Trường Sơn, anh đã "là con của mọi nhà".

Rồi từ "tâm chấn" Trường Sơn, những Lửa đèn, Gửi em-cô thanh niên xung phong, Nhớ, Tiếng bom ở Seng Phan, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Nghe hò đêm bốc vác, Qua cầu Tùng Cốc, Nghe em hát trong rừng, Tiếng cười của đồng chí coi kho, Đèo Ngang, Ngãng thân yêu, Vầng trăng và những quầng lửa, Những mảnh tàn lá, Người ơi người ở, Đi giữa vùng giải phóng Lào, Theo bước chân của trẻ em Lào, Rừng tre và tiếng kẹt cửa, Nhớ lại những trận gió di dân... đã làm nên làn "sóng chấn động" thứ nhất trong lòng người đọc.

Những Áo của hôm nào người của hôm nay, Nhớ đồng ca hát đồng ca, Chuyện tình, những trích đoạn bài thơ dài Những vùng rừng không dân... lại là làn "sóng chấn động" thứ hai.

Những Luật chơi, Cây tháp nước bỏ hoang, Chợ lao động ở Giảng Võ, Quảng cáo cho máy đuổi muỗi nhãn hiệu Jum Bo, Tôi mơ một con đường cao tốc, Tiễn các cháu đánh giày về quê ăn Tết, Nạm tóc của gia đình Hao-kin, Có mùa xuân cho tất thảy không... và đặc biệt, trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa, lại là làn "sóng chấn động" thứ ba của anh.

Ở trường ca này, bản trường ca mà ít người để ý tới, lòng người thơ Trường Sơn, tình người thơ Trường Sơn, trí người thơ Trường Sơn bùng dậy, bối rối, ân hận, đau đớn, cay đắng, thương cảm, xót xa như "đoạn trường", như ai cắt cứa thân thể và trái tim mình vậy!

Gặp những làn "sóng chấn động" đầu của cuộc "động đất thơ" Phạm Tiến Duật, người ta khóc mà vui, khóc vì được cười bởi sự trẻ trung, hóm hỉnh, hào sảng của tuổi trẻ Trường Sơn chống Mỹ. Gặp "làn sóng" thứ hai, có thể cười buồn. Nhưng khi gặp làn "sóng chấn động" thứ ba của anh, đặc biệt là Tiếng bom và tiếng chuông chùa, thì không ai có thể cười được nữa: Nhưng tại sao, tại sao họ lại đi tu? - Những đồng đội của anh, của tôi, tại sao lại thế? - Chẳng lẽ trong trái tim chúng ta, chẳng lẽ - Không còn chỗ nào cho đồng đội nữa hay sao? - Chẳng lẽ trong xóm mạc kia, không có một nơi nào - Đủ hơi ấm cho những người mấy chục năm ra trận? - Chẳng lẽ cuộc đời này quá nhiều lận đận - Để những anh hùng mệt mỏi nghỉ rồi sao?... Mười tám đôi mươi trẻ trung là vậy - Hầu hết các em không có tuổi già - Các em có tên mà lại hóa không tên - Mỗi người có phận riêng mà không có mồ riêng - Đến tấm ảnh cũng mờ - Thời gian xóa dần gương mặt... Sư mặc áo vàng, áo nâu là tự ngàn xưa - Chẳng khi nào pha sắc xanh bộ đội - Anh muốn hỏi và tôi muốn hỏi - Chỉ màu trời tím biếc trả lời thôi... Sư thầy tụng kinh từ đầu đêm - Sao quá nửa đêm rồi vẫn chưa đi ngủ - Sao sư thầy không gõ mõ - Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình - Có thể nào những day dứt thời bình - Cũng làm cho vết thương ngày xưa tái phát? v.v.. và v.v..

Viết hàng ngàn dòng một cách tư biện, sao bằng dùng ngòi bút mà xướng lên từng niềm vui trên gương mặt và trong tâm hồn đồng đội, đồng bào, đồng chí một cách trong cuộc, trực tiếp, trực diện như thế?; sao bằng dùng ngòi bút để chìm xuống, thâm tím cả đi, để đớn đau cùng số phận đồng đội, đồng bào, đồng chí một cách trong cuộc, trực tiếp, trực diện từ "hiện thực gốc", như thế?

Ngoài thơ, Phạm Tiến Duật còn viết văn xuôi, phê bình - tiểu luận; viết về những bạn viết, cả già lẫn trẻ, vào hàng nhiều nhất trong những cây bút phê bình - lý luận thời này, cứ đọc Vừa làm vừa nghĩ, Kim cương bất hoại thì sẽ rõ. Sắc sảo mà đầy tình thân yêu, thương quý nhau, đấy là văn xuôi và phê bình - tiểu luận của Phạm Tiến Duật.

Xin các nhà phê bình đừng vội tách phần "Hậu Trường Sơn" của Phạm Tiến Duật ra rồi bảo rằng, nó "thấp" hơn Trường Sơn của anh ấy! Đành rằng, văn chương ai cũng có chỗ cao chỗ thấp, cổ kim vẫn vậy, nhưng tấm lòng và thơ Phạm Tiến Duật mãi là lửa, là tiếng cười và nước mắt thời chúng ta. "Đóng ván thiên" sớm cho sự nghiệp của bất cứ ai, đều là bất nhẫn; với Phạm Tiến Duật, là sai.

Nói đến Đường Trường Sơn chống Mỹ là nói đến ý chí Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam và... không thể không nhắc đến thơ Phạm Tiến Duật.

Anh không chỉ là gương soi của tuổi trẻ Trường Sơn, tuổi trẻ chống Mỹ, mà càng đọc thơ anh càng rõ, còn là lương tâm và tình bạn, tình yêu của những người viết trong thời đại mình.

ĐỖ TRUNG LAI