Thắt lưng và địa bàn Nguyễn Xuân Luyến thu được của địch. Ảnh: XUÂN LUYẾN

Hôm ấy là chiều 9-2-1971, trước khi đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa, tôi và Bùi Năng được Trung đội phó Đinh Mạnh Hồng báo cho lên gặp Trung đoàn trưởng Trần Trọng Trai và được giao nhiệm vụ ngắn gọn: Các cậu ở lại đây (vừa nói ông vừa lấy bản đồ khu vực chỉ vị trí đứng là chân điểm cao 650-còn gọi là A Rinh) để đón anh em đang còn đi sau nhanh chóng về đơn vị chiến đấu. Nếu địch đổ bộ xuống khu vực này thì cứ thẳng hướng đông mà đi sẽ gặp đơn vị.

Một đêm thay nhau ngủ đã qua. Sáng 10-2 chúng tôi cũng đã đón và chỉ đường cho một số anh em đi về đơn vị. Khoảng 9 giờ sáng trực thăng bắt đầu hoạt động vang cả núi rừng. Đang quan sát theo dõi việc đổ quân của địch, thì chúng tôi phát hiện khoảng một trung đội lính thám báo rằn ri đang dò dẫm tiến vào khu vực, tôi và Năng bí mật xuống hầm sẵn sàng nổ súng. Đợi cho vừa tầm lựu đạn, chúng tôi ném mỗi người ba quả liên tiếp, rồi dùng AK bắn quét. Địch bị đánh bất ngờ một số chết tại chỗ, những tên khác và số bị thương dạt ra nép vào các gốc cây dùng súng AR 15, M79 bắn túi bụi vào phía chúng tôi. Cả tôi và Năng đều đã bị thương, riêng tôi bị một viên đạn AR 15 rượt đỉnh đầu và mảnh đạn M79 găm vào tay trái. Vừa lau vuốt máu trên mặt, vừa bắn tỉa từng tên bên ụ mối và cạnh các gốc cây, cho đến khi gần hết đạn, tôi bảo Năng dùng AK điểm xạ, còn tôi bò lên bên phải trước mặt lấy ụ mối làm vật che đỡ rồi vươn thẳng người ném tiếp hai quả lựu đạn còn lại, sau tiếng nổ chúng tán loạn hò hét kêu la. Tôi và Năng nhanh chóng thu trang bị rút khỏi hầm.

Ra khỏi khu vực được hơn một trăm mét thì chúng tôi lại bị pháo cối 81 li bắn chặn. Hết đợt pháo tôi bật dậy tìm gọi Năng nhưng không thấy đâu, lấy địa bàn định hướng phương vị tôi bắt đầu đi. Vượt rừng già rậm rạp và đồi cỏ tranh sắc nhọn, đi mãi mà vẫn không gặp một dấu vết nào của con người. Bụng đói, miệng khát giữa chiều tà Nam Lào heo hút, rồi bóng đêm cũng ập xuống. Không gian yên ắng, cái yên ắng trước một trận đánh lớn thường như vậy. Trăng hạ tuần cũng đã trải khắp núi rừng mờ đục lẫn sương đêm. Tôi vẫn dò dẫm đi theo hướng trăng lên, cứ thế đi đến hơn hai mươi giờ, người như lả đi, toàn thân rã rời, may mà lại tụt được xuống một tụ thủy có suối nhỏ. Vốc nước lên uống, tỉnh táo lại dần, tôi quyết định nằm lại. Tựa lưng vào vách đá, cái lạnh đêm giữa núi rừng Xa-van-na-khệt không sao ngủ được. Tôi lại bò lên tìm chỗ bằng phẳng, vơ lá khô trải xuống lưng nằm co ro, đầu gối súng, mũ cối úp lên mặt. Tiếng động cơ máy bay C130 ì ì trên bầu trời đêm, thỉnh thoảng tiếng bục bục của pháo sáng và có lúc hàng tràng đạn 28 li từ trên máy bay bắn xuống ở phía đông, chắc chúng bắn tọa độ thăm dò hoặc chặn đường xuất kích của quân ta.

Theo kế hoạch chiến đấu, sáng mai là ngày N+3, thông báo của trên địch sẽ dùng sức mạnh tổng lực tiến công theo trục đường số 9, mục tiêu là Bản Đông, Sê Pôn, cắt ngang đường mòn Hồ Chí Minh cả đông và tây, không biết có bao đơn vị tham chiến nhưng Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 của chúng tôi được giao chốt chặn đánh địch khu vực cầu Ka Ki, điểm cao 351… trên đường số 9. Tôi chỉ mong cho trời chóng sáng để về với đơn vị, về với anh em trung đội thông tin vận động của tôi. Mệt mỏi, muỗi rừng và đói, có lúc cũng thiếp đi, trong mơ màng lại nghe tiếng hò hét của địch: “Lào cộng hay Bắc cộng đấy, ra hàng đi”… giật mình tỉnh giấc lại cầu mong cho trời sáng.

Thế rồi trời cũng đã sáng. Lau rửa sơ sài mặt mũi, xỏ lại mấy quai dép bị tuột, lấy địa bàn định lại phương vị, tôi bắt đầu đi. Mãi tới hơn mười giờ mới gặp đường mòn cũ và rải rác có truyền đơn của địch mới thả, xem qua nội dung chủ yếu kêu gọi chiêu hồi và cũng có sơ đồ hướng đi về hướng đông nơi có địa điểm tiếp nhận chiêu hồi. Để xác định rõ hơn cái hướng đông của tôi, tôi đã phải đi lại vài lần và cuối cùng khẳng định đây chính là con đường mòn từ Ca đáp quay đi A mua, con đường mà hai lần trinh sát địa hình tháng 5 và tháng 8 năm 1970 tôi đã đi. Theo con đường này, chếch đông đông nam 5 độ đi vài chục phút nữa tôi gặp đơn vị đầu tiên là Tiểu đoàn 25 vận tải của Sư đoàn 308. Tuy chưa về được đơn vị nhưng gặp được bộ đội mình là vui sướng lắm rồi. Sau khi trình bày việc gặp địch chiến đấu, bị thương và đi cắt rừng về đây, tôi được Ban chỉ huy cũng như cán bộ, chiến sĩ đơn vị bạn chăm sóc, cắt tóc, rửa, băng bó vết thương, ở đây được dăm ngày, tôi về điều trị tại Viện Quân y tiền phương hơn một tuần nữa, vết thương tạm ổn rồi ra viện. Trở về trong vòng tay của anh em đơn vị, Bùi Năng bị thương nhẹ và cũng đã tìm về đơn vị trước đó. Hôm trực ban liên lạc, gặp lại Trung đoàn trưởng Trần Trọng Trai, ông hỏi tôi: “Có phải các cậu nổ súng đánh địch ở A Rinh không, theo tin kĩ thuật, các cậu là người nổ súng đầu tiên của Trung đoàn đấy, tuy nhiên tớ tưởng gặp khó khăn các cậu hi sinh cả”.

Nguyễn Xuân Luyến (người cầm lựu đạn) cùng Bùi Năng trong trận đánh tiêu diệt 14 tên thám báo ngụy tại chân đồi A Rinh (điểm cao 650) ngày 10-2-1971 trong chiến dịch Nam Lào. Ảnh: DUY MINH

Được bên cạnh chỉ huy Trung đoàn, bao tin thắng trận báo về: Tiểu đoàn 5 chặn đầu khóa đuôi tiêu diệt gần 30 xe GMC chở lính địch trên đường số 9 gần cầu Ka Ki. Lê Mã Lương, một cán bộ đại đội của tiểu đoàn 4 chiến đấu dũng cảm ở cao điểm 351, khi hết đạn đã lấy vũ khí địch tiêu diệt địch, bị thương nặng vẫn bám giữ trận địa chỉ huy đơn vị… Các đơn vị bạn thắng lớn trên hướng Bản Đông, địch bị tiêu diệt, tiêu hao và nguy cơ bị bao vây trên thị trấn Sê Pôn trong đó có Lữ đoàn dù 3 ngụy Sài Gòn…

Kết thúc chiến dịch Nam Lào sau 43 ngày đêm chiến đấu ta đã toàn thắng cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch. Tôi được tặng thưởng huân chương chiến công hạng Ba và là chiến sĩ thi đua tại Đại hội thi đua  của sư đoàn. Gần 26 năm trong quân ngũ, những năm tháng trận mạc chủ yếu ở đơn vị chiến đấu-Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 (Binh đoàn Hương Giang), đơn vị hai lần được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau lần đi học tôi mới chuyển sang mặt trận 379 Bắc Lào rồi về hưu. Đời lính chiến bao lần được trang bị súng đạn, bao lần đổi, trả, duy chỉ có chiếc thắt lưng, chiếc địa bàn cùng túi đựng chính hiệu USA mà lịch sử của nó gắn liền với trận thắng lớn của đơn vị, tôi đã thu được từ trận phục kích thám báo ngụy. Súng côn nộp lại, còn chiếc thắt lưng và địa bàn tôi xin đơn vị được sử dụng (lúc bấy giờ địa bàn hiếm lắm, chỉ có trung đội trưởng thông tin và trinh sát mới được trang bị địa bàn). Chiếc địa bàn đã cùng tôi vừa là vật kỉ niệm vừa là vật sở hữu trong quá trình chiến đấu và công tác, nhất là lần đi cắt rừng một ngày một đêm như tôi kể trên đây. Bao lần đưa đón cán bộ đi trinh sát, đưa chuyển công văn mệnh lệnh xuống đơn vị, báo cáo về sư đoàn. Khi là một sĩ quan chỉ huy, chiếc địa bàn đã cùng ban chỉ huy định hướng, giao hội bản đồ và thực địa xác định vị trí đứng trong chiến đấu, trong các lần diễn tập, tọa độ đóng quân sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn rừng núi Bắc Lào. Khi về quê, anh em bà con mượn lấy hướng nhà, sang mộ… tôi đều cho mượn và mỗi lần như vậy lại có dịp để tôi kể lại lịch sử chiếc địa bàn này…

NGUYỄN XUÂN LUYẾN