 |
|
Đèn “Tia sáng-Hòa bình” khi mở nắp.
|
Đó là một trong những kỷ vật thời chiến của ông Kiều Hải Bằng, Bí thư chi bộ thôn Triều Đông, xã Cổ Đông (Sơn Tây, Hà Nội), Thiếu úy, nguyên Đại đội phó một, thuộc Tiểu đoàn 14, Đoàn 770, Cục Hậu cần, Quân khu 7. Chúng ta hãy nghe ông kể về kỷ vật đó...
Năm 20 tuổi, tôi nhập ngũ, được biên chế vào Tiểu đoàn 14, Đoàn 32, tham gia khóa huấn luyện chiến sĩ súng máy phòng không 12,7mm ở Hòa Bình. Đến ngày 17-11-1965, tôi cùng đơn vị hành quân vào Nam chiến đấu, đi mất 3 tháng thì vào đến tỉnh Quảng Đức (miền Đông Nam Bộ).
Năm 1968, tôi được chuyển sang phân đội trinh sát, thuộc Đoàn 770, Cục Hậu cần Miền làm tiểu đội trưởng chỉ huy 18 chiến sĩ, với nhiệm vụ tuần tra, truy tìm biệt kích, thám báo địch, bảo vệ tuyến đường dây đưa đón quân ta vào Nam, ra Bắc.
Là phân đội trinh sát nên chúng tôi phải hoạt động độc lập, vì vậy các trang bị cũng phải phù hợp với điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ. Có nghĩa là các vật dụng phải có kích thước nhỏ, gọn, nhẹ, tiện cho cá nhân sử dụng.
Chính vì vậy, ngoài các trang bị cho sinh hoạt cá nhân trên cấp như bát sắt, ăng-gô, chăn, màn... thì cũng như các chiến sĩ đang chiến đấu ở chiến trường B lúc ấy, đơn vị và cá nhân chúng tôi tự chế các đồ dùng khác như bọc võng (màn dùng khi nằm võng) làm bằng dù pháo sáng và đặc biệt là chiếc đèn dầu có tên gọi là đèn “Tia sáng - Hòa bình” được làm bằng các vật liệu sẵn có ở chiến trường.
Chúng tôi lấy vỏ lọ thuốc chống vắt làm phao đựng dầu; lấy vỏ pháo sáng làm cổ đèn, nắp đậy và dây khóa xích; ống bấc đèn được làm từ ruột và lò xo bút bi bằng đồng (có cơ cấu đàn hồi kiểu pít-tông để khi đóng mở nắp đậy thì ống bấc thụt xuống khi mở nắp thì ống được lò xo đẩy lên, và khi khêu bấc đèn chỉ việc ấn, thả ống thì bấc sẽ lên); còn bấc đèn bằng sợi giẻ lau súng.
Ở chỗ khớp nối giữa cổ đèn và phao đựng dầu, chúng tôi tạo hình một chú chim bồ câu, vừa là chỗ móc giữ nắp đèn khi thắp, vừa là biểu tượng thể hiện khát vọng chiến đấu là để cho đất nước hòa bình! Cũng vì điều này nên anh em đã đổi tên đèn từ “Hoa đăng” (tên ban đầu) thành đèn “Tia sáng - Hòa bình”.
Với loại đèn đặc biệt này, mỗi người “được trang bị” một chiếc, ngoài ra phân đội còn làm “sơ cua” một số chiếc phòng khi đèn của ai hỏng vỡ có cái thay ngay và dùng vào các dịp sinh hoạt tập thể phải cần nhiều đèn. Đối với chúng tôi thì chiếc đèn là “vật bất ly thân”.
Lúc hành quân, chiến đấu đèn được đậy chặt nắp rồi đeo bằng khóa xích vào thắt lưng. Khi ở dưới hầm, anh em cùng nhau thắp đèn để chuẩn bị phương án tác chiến, ghi biên bản cuộc họp, hay viết thư, ghi nhật ký. Khi ấy nhìn ánh sáng của ngọn đèn soi rõ cánh chim hòa bình lòng anh em ấm lại, vững tin vào tương lai chiến thắng.
 |
|
Cái bọc võng.
|
Ngoài ra, chiếc đèn còn là người bạn thủy chung, son sắt, vẹn tình, trọn nghĩa với chúng tôi. Những lần sinh nhật của ai trong phân đội, không có nến nên anh em tập trung tất cả đèn lại thắp sao cho số đèn tương ứng với số tuổi của người đó. Còn khi có đồng đội ngã xuống, thì số lượng đèn cũng lại được anh em thắp lên bằng số tuổi của người hy sinh để tiễn biệt thay cho hương, nến...
Vậy nên, mỗi khi nhìn cái ăng-gô, tôi lại nhớ ngày ăn cơm canh, đun, nấu, hái rau, mò cua, cá... trên rừng, dưới khe; nhìn cái đồng hồ lại nhớ những lần đốc gác anh em; nhìn cái bọc võng lại nhớ lúc đung đưa nhịp võng giữa rừng già; còn mỗi khi thắp đèn lên lại nhớ 20, 21 ngọn đèn thay nến, tiễn biệt anh Dương Văn Thiện (quê Bình Dương), anh Nguyễn Văn Thảo (quê ngoài Bắc)... khi các anh ngã xuống ở tuổi 21, 20...
Chiến tranh đã lùi xa, những hiện vật tôi vẫn giữ gìn, vì chúng đã gắn bó với tôi và đồng đội trong những ngày gian khổ nhưng cũng đầy lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng và tương lai tươi sáng của dân tộc, của đất nước. Giữ lại những kỷ vật đó, những chứng tích về một thời chiến tranh, tôi muốn nhắn nhủ với con, cháu trong nhà và mọi người xung quanh rằng: Hãy yêu hòa bình và ghét chiến tranh.
Bài và ảnh: PHẠM THÀNH CÔNG
(ghi theo lời kể của ông Kiều Hải Bằng)