Chiếc bàn kỷ vật.

Tại phòng  khách nhà tôi có đặt một chiếc bàn độc xoay, loại bàn kiểu cổ, xuất hiện từ hai thế kỷ trước. Loại bàn này hầu như chỉ thấy ở thôn quê, thường được đặt trước bàn thờ. Mặt bàn tròn đường kính 8 tấc, dày hơn 2 phân đặt trên một trục có thể xoay tròn. Bàn có 3 chân, dạng chân quỳ, chiều cao toàn bộ gần 9 tấc. Các cụ ở quê thích chụp ảnh chân dung bên chiếc bàn này với bình hoa, khay trầu, ấm trà cùng chén tách.

Đối với gia đình tôi, chiếc bàn này vừa là vật kỷ niệm về cha tôi vừa là kỷ vật kháng chiến làm chứng tích cho cha tôi, một người đã tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1945 tại Nha Trang.

Chiến tranh đã đem đến cho gia đình tôi nhiều nỗi khổ đau, mất mát. Ông bà tôi mất người con trai ở tuổi 31 mà không tìm được xác; mẹ tôi trở thành góa bụa lúc mới 29 tuổi và bà đã ở vậy đến suốt đời; em gái tôi chưa hề thấy mặt cha vì ngày cha tôi hy sinh mẹ tôi đang bụng mang dạ chửa; còn tôi, thuở ấy chỉ là một đứa trẻ lên 3. Thông tin duy nhất mà gia đình tôi được biết là cha tôi bị giặc Pháp bắn vào ngày 14 tháng giêng âm lịch và hằng năm gia đình tôi cứ lấy ngày này làm ngày cúng giỗ. Thuở ấu thơ tôi đã thuộc lời ru não nuột của bà tôi: “Còn cha gót đỏ như son/ Đến khi cha mất gót con như chì”.

Như phần đông phụ nữ nghèo ở quê, mẹ tôi ngoài việc đồng áng còn phải xay lúa, giã gạo rồi gánh đi bán dạo khắp làng. Có những lúc quá neo đơn, không biết gửi con cho ai, hết tôi rồi đến em gái tôi phải ngồi trong một đầu thúng đong đưa theo nhịp chân của mẹ. Đã vậy, suốt thời kỳ binh lửa, người dân quê tôi phải tản cư, lánh cư, tránh bom đạn, tránh cảnh khủng bố, khảo tra của giặc, gian khó mọi bề. Cảnh bi thảm thời chiến ở vùng quê tôi hầu như không ai không nếm trải. Cậu ruột tôi cũng là liệt sĩ, cha chồng em gái tôi cũng là liệt sĩ, bác ruột của vợ tôi cũng là liệt sĩ. Cho nên không ai thấy nỗi khổ đau của mình là lớn hơn ai. Có biết bao bà mẹ ở quê tôi chồng là liệt sĩ rồi lần lượt các con đều hy sinh cho Tổ quốc.

Mãi đến sau ngày thống nhất đất nước, phần lớn cán bộ tập kết về lại quê nhà, tôi mới  được biết thêm một số thông tin về cha tôi như sau: “Tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sau ngày giành chính quyền làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng xã; năm 1946, thoát ly, làm Phó chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến huyện, bị địch phục vây bắn chết trong khi đi làm công tác địch vận…”.

Từ những xác nhận của đồng đội cha tôi, gia đình tôi đã nhận bằng Tổ quốc Ghi Công do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 19-9-1977.

Nhưng điều mà tôi cần biết là cha tôi hy sinh tại nơi nào và phần mộ hiện nằm ở đâu thì chẳng ai cho hay.             

Tôi phải lần hồi cất công dò hỏi khắp địa bàn hoạt động của cha tôi. Mãi đến năm 1995, tôi mới tìm ra được nơi cha tôi hy sinh. Thật không ngờ, nơi này chỉ cách quê tôi không đến 3 cây số!

Đó là nhà của người cơ sở, nằm cách quốc lộ 1 vào khoảng 100 mét. Bà con tại đây đã tiếp đón tôi thật thân tình, gần gũi như có sự mong đợi từ lâu.

Bà con đã chỉ cho tôi xem từng vết đạn trên khung cửa, rồi chiếc bàn độc xoay cũ kỹ, mặt bàn có nhiều dấu trầy xước và cho biết đó là chỗ cha tôi ngồi làm việc trước lúc hy sinh.

Sau đó tôi còn được nhìn thấy lối thoát thân của cha tôi khi giặc nổ súng. Ngay tại chỗ cha tôi gục ngã, người chủ ngôi nhà phía trước ngôi nhà cơ sở đã xây một bàn thiên, một dạng bàn thờ đặt ngoài trời, để làm nơi hương khói cho vong linh cha tôi vào các ngày sóc, vọng (ngày mồng 1 và ngày rằm âm lịch).

Tôi đã xúc động mạnh khi nhìn thấy trên bàn thiên còn bánh trái và lư hương đang bốc khói.

Khi trở lại nhà bác cơ sở, thấy tôi chăm chú nhìn chiếc bàn độc xoay thì bác bộc bạch ngay với tôi là con cháu nhà bác đã có ý muốn đổi chiếc bàn để sắm một bộ xa-lông cho phòng khách, nếu tôi thích thì cứ nhận bàn về. Thật không gì bằng! Tôi cảm tạ sự chân tình đầy ấm áp của gia đình bác và thanh toán đủ số tiền cho con cháu bác có bộ bàn ghế mới để tiếp khách.

 Bác còn cho biết, dù đã trúng đạn nhưng cha tôi chưa chết, giặc đã lôi xác cha tôi ra quốc lộ, quăng lên một chiếc xe Dodge đang chờ sẵn rồi phóng nhanh về hướng biển, có lẽ để tiếp tục khảo tra, khai thác thêm hay để báo công, lĩnh thưởng…

Đến đây việc tìm hiểu của tôi chỉ mới hé ra một nửa, đó là biết được chỗ cha tôi làm việc trước lúc bị địch sát hại, còn hài cốt hiện vùi lấp ở đâu thì hoàn toàn chưa biết!...

Tôi đã đến Thăng Bình 6 lần. Sự việc tìm mộ kéo dài đến hơn một năm trời nhưng muốn xác định cho thật chính xác, cuối cùng, được sự trợ giúp của nhân dân, tôi mới tìm ra được chỗ địch vùi xác cha tôi ở trong khu đất của chùa Kim Sơn, là một ngôi chùa cổ của tỉnh Khánh Hòa. Đây cũng chính là ngôi chùa làng mà thuở nhỏ tôi vẫn theo bà tôi về lạy Phật vào các ngày lễ vía.

Tôi cũng được biết là giặc đã buộc 2 chân cha tôi rồi thòng đầu cha tôi vào cái hố đã đào sẵn, trước khi lấp đất chúng đã dùng hóa chất đổ lên người cha tôi cho xác chóng phân hủy vì nơi vùi xác chỉ cách đồn giặc khoảng 100 mét. Sử liệu địa phương có ghi là năm 1946 giặc Pháp tái chiếm Khánh Hòa, đóng đồn tại chùa núi Kim Sơn và đặt súng bắn phá khắp nơi. Tại nơi giặc đóng đồn, nhà chùa đã dựng tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát.

Khi bốc mộ thì hài cốt cha tôi chỉ còn là những nắm đất đen. Tôi đã đưa  chiếc quách đựng nắm đất cha tôi về nghĩa trang liệt sĩ để xây mộ vào cuối năm 1997. Một điều cũng khá kỳ diệu là em ruột của mẹ tôi, liệt sĩ chống Mỹ, hy sinh năm 1963 cũng  nằm cùng hàng mộ với cha tôi, có số thứ tự trước mộ cha tôi 9 số.             

Với gia đình tôi, chiếc bàn độc xoay đã trở thành kỷ vật kháng chiến gần gũi, thân thuộc nhất vì qua đó mẹ tôi đã “thấy lại hình bóng” của cha tôi tới hơn 10 năm trước khi bà qua đời.

Để chiếc bàn này xứng đáng là một món gia bảo, ngay khi đưa về tôi đã cho sửa sang, gia cố, đánh bóng nên đến nay bàn vẫn mới tinh tươm và tôi tin tưởng rằng đây cũng là một kỷ vật truyền tử lưu tôn giúp cho các thế hệ con cháu tôi mãi mãi tưởng nhớ về cha tôi, mãi mãi noi gương, mãi mãi tự hào. 

NGUYỄN ĐÌNH  LỰC