 |
|
Chào mừng cách mạng Tháng Tám.Ảnh Internet |
Trong giờ phút biến đổi có tính chất bước ngoặt của lịch sử này, tôi bỗng nhớ lại chặng đường từ tuổi thơ ra đi kiếm sống và đến với cách mạng của mình mà thấy rưng rưng xúc động...
Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Một cuộc đảo chính diễn ra khá chóng vánh. Súng ống của quân Pháp bị quân Nhật thu hết, đêm đến chúng tôi đi theo họ đem súng đạn ra một góc rừng cao su gần doanh trại của Nhật chôn giấu. Có một số hầm súng các loại đã được chúng tôi tự chôn giấu. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, có đến ba ngày sau vẫn thấy im ắng, tôi hỏi mấy người lớn tuổi:
- Họ nói giúp ta đánh Pháp, giành độc lập, bây giờ Pháp thua rồi, ta đã có độc lập chưa?
Không ai trả lời được. Tôi xung phong dẫn hơn chục anh em lên gặp chỉ huy người Nhật. Lúc đầu đoàn còn được hơn chục người, sau rút dần còn năm người do tôi chỉ huy. Đến nơi, viên trung tá chỉ huy trưởng đi vắng, chỉ còn viên thiếu tá. Tôi hỏi:
- Thưa ông, các ông hứa giúp chúng tôi đánh Pháp để giành độc lập, bây giờ Pháp thua rồi, chúng tôi đã được độc lập chưa?
- Đúng là chúng tôi có hứa như vậy, nhưng bây giờ phải chờ lệnh cấp trên- Viên thiếu tá ngập ngừng trả lời.
Chúng tôi đành ấm ức quay về. Đến sáng chủ nhật, tôi ra phố tìm anh Nghiêm Phú Thạch là người tôi mới quen sau khi về Chí Hoà để hỏi thăm tình hình. Anh Nghiêm Phú Thạch hơn tôi chừng bốn năm tuổi, anh làm ở nhà ăn sĩ quan. Sau khi nghe tôi nói, anh Thạch nhìn tôi cười bảo:
- Không có đâu chú ơi! Đây chẳng qua là cuộc thay thầy đổi chủ, hất cẳng lẫn nhau. Nay những người làm tay sai cho Pháp thì ngày mai lại làm tay sai cho Nhật. “Đại Đông Á”, với lại “giành độc lập” cho ta, chẳng qua chỉ là trò bịp hết. Chúng ta bị lừa rồi. Bây giờ tốt nhất ai lo phận nấy là hơn.
Tối hôm đó tôi trốn ngay về Phnôm Pênh. Ở với chú thím và em được hai tuần, tôi lại xuống Sài Gòn tìm việc làm. Tôi đang lang thang kiếm chân thợ may ở mấy cửa tiệm may trong phố thì tình cờ gặp anh Vĩnh. Anh mừng quá, nói:
- Anh vừa đi công tác với bọn sĩ quan Nhật ra miền Bắc, anh đã trốn khỏi bọn Nhật và gặp được Việt Minh. Các anh ấy giao nhiệm vụ: bây giờ chúng ta phải nhanh chóng tổ chức lực lượng bộ đội, hình thành lực lượng chiến đấu. Anh đã bắt được liên lạc với Việt Minh rồi thì chú hãy tham gia với anh.
- Em trốn rồi – Tôi bảo.
- Bây giờ chú tìm cách về lại đơn vị cũ, bên ngoài vẫn làm việc bình thường cho bọn Nhật, bên trong tranh thủ tìm cách tuyên truyền, vận động kéo anh em mình ra, tôi đón chú và anh em ở rừng cao su Chí Hòa.
- Thế anh em ta ra thì lấy gì mà ăn? – Tôi hỏi lại.
- Tôi đã xin một số nhà hảo tâm và những cơ sở ở Sài Gòn được một ít tiền sẽ mua xoong, chảo, gạo, muối, mắm, cá khô, củi…
Tôi hứa tối mai sẽ ra rừng cao su Chí Hòa gặp anh, sau đó chúng tôi mỗi người đi một ngả.
Đêm ấy tôi về góc phố nằm trên vỉa hè suy nghĩ cả đêm không ngủ tìm cách trở về đơn vị, tìm cách tuyên truyền vận động anh em tham gia Việt Minh với anh Vĩnh. Lúc đó tôi cũng chưa hiểu gì nhiều về Việt Minh, tôi chỉ biết rằng đó là một lực lượng mới, tiến bộ do lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo, đại diện cho tầng lớp công nông đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập dân tộc.
Sáng ra tôi vừa ra đến chợ Bến Thành thì có ba hiến binh Nhật đi tới hỏi phiên hiệu đơn vị của tôi rồi chúng bắt và đưa tôi trở về Chí Hòa và gọi chỉ huy ra nhận đưa về lán trại. Bọn này nhìn thấy cái đầu trọc của tôi nên chúng biết ngay là phụ binh đào ngũ. Anh em cũ thấy tôi trở về đều mừng rỡ, họ bảo tôi:
- Trời ơi sao dại thế, gần một năm trời khổ cực, bây giờ độc lập đến nơi rồi còn bỏ đi.
Cứ để cho các anh nói cho thỏa, tối đến tôi mới lặng lẽ gặp từng người vận động:
- Các anh theo anh Vĩnh tức là theo Việt Minh, vì anh Vĩnh đã liên lạc với Việt Minh, nhận chỉ thị của Việt Minh. Anh Vĩnh đang chờ các anh ở rừng cao su. Không phải người Nhật mà chính Việt Minh mới là người giải phóng cho dân ta khỏi ách đô hộ, Việt Minh mới giành độc lập cho dân ta.
Có anh em hỏi: “Việt Minh là ai?”. Tôi bảo: “Việt Minh là người của ta, do cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo”. Anh em lại hỏi: “Việt Minh ở đâu?”. Tôi bảo: “Việt Minh ở ngoài Bắc, bây giờ đã vào trong này rồi, đang tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh với Nhật đòi độc lập”.
Đêm đầu tiên tôi vận động được gần hai chục anh em đưa ra rừng cao su. Anh Vĩnh đón chúng tôi ở đó và đưa đi luôn. Cứ như vậy trong ba ngày, ba đêm tôi đã vận động được bảy mươi sáu người trong số hơn một trăm người ở đây ra rừng cao su. Đêm thứ ba anh em ra đã vãn, thấy tình hình đã căng, tôi đưa anh em ra và đi luôn cùng anh em, không quay lại trại lính nữa. Lúc này bọn Nhật cũng đã rệu rã lắm rồi nên số trốn chúng cũng không trực tiếp truy lùng để bắt lại.
Anh Vĩnh đưa chúng tôi ra căn cứ ở rừng cao su cách đó không xa. Chúng tôi được ăn cơm với cá khô, bữa cơm đầu tiên của bộ đội Việt Minh. Ban đêm tôi dẫn anh em đi đào các hầm súng của Nhật tước của Pháp. Người có xe bò thì chở bằng xe, người không có xe thì vác bộ. Sau bốn đêm, chúng tôi đã đào được hơn năm trăm khẩu súng các loại. Trong đó to nhất là khẩu đại liên, không hiểu sao nó còn mới thế mà lại không có chân. Số còn lại là trung liên, tiểu liên và súng trường, có cả súng trường của Nga cùng rất nhiều loại đạn. Trong thời gian này, anh Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu)(1) cùng dẫn một lực lượng lớn anh em về hình thành một chi đội(2). Anh Vĩnh còn đề cử người liên hệ với một tờ báo tiến bộ để đăng báo kêu gọi một số dân nghèo thành phố, dân Bắc làm phu cao su về nhập Việt Minh. Lúc cao điểm nhất quân số của đơn vị lên đến tám trăm người. Anh Vĩnh là người chỉ huy cao nhất, anh Nghiêm Phú Thạch là chỉ huy phó chi đội. Tôi được phân công làm phân đội phó. Lúc này đã là tháng 7 năm 1945. Ta đã có tám trăm quân, hơn năm trăm khẩu súng các loại và một số đạn dược. Cũng may hồi này trời ít mưa, chúng tôi rải lá nằm ngay trong rừng cao su, anh em co quắp lấy nhau để ngủ qua đêm bởi không có chiếu, cũng chẳng có chăn màn, mặc cho muỗi đốt.
Vào một đêm hè trời đầy sao, tại rừng cao su Chí Hòa, tôi được anh Vĩnh triệu tập đến một nhà dân ven đường để họp. Ngôi nhà này ở bên tay phải đường từ Sài Gòn đi Chí Hòa, cách Sài Gòn khoảng hai chục cây số. Đến nơi, trong ánh đèn le lói giữa căn nhà nhỏ, tôi đã thấy có anh Nguyễn Văn Vĩnh, anh Nghiêm Phú Thạch là hai anh chỉ huy cao nhất cùng anh Nguyễn Minh Châu và các cán bộ đại đội trưởng là anh Tấn(3), anh Trẫm và anh Trung quê ở Bắc Ninh. Trong số cán bộ họp đêm nay, anh Vĩnh có mời tôi là cán bộ phân đội ít tuổi nhất trong số cán bộ đơn vị.
Anh Vĩnh nói về tình hình thế giới, về việc Nhật muốn trừ hậu họa ở Đông Dương nên đã đảo chính Pháp và anh khẳng định: “Cụ Nguyễn Ái Quốc cũng chính là cụ Hồ Chí Minh là người lãnh đạo Việt Minh giành độc lập cho dân tộc ta”.
Chúng tôi cũng chỉ biết như vậy, chứ chưa ai biết cụ Nguyễn Ái Quốc là ai, hình dung ra sao.
Sau khi nói tình hình chung, anh Vĩnh nói:
- Chúng ta bây giờ đã là một đơn vị lớn của bộ đội Việt Minh, có tám trăm quân, chúng ta cần có quan điểm cụ thể, rõ ràng. Tôi xin tuyên bố năm điểm chính của chi đội: Điểm một, chúng ta chỉ theo Việt Minh, quyết tâm đánh Pháp đến thắng lợi, giành độc lập dân tộc cho Tổ quốc, không theo bất kì tổ chức, đảng phái hay cá nhân nào khác(4). Điểm hai, kính trọng nhân dân, không vi phạm tới tính mạng và tài sản của nhân dân, mặc dầu là một vật nhỏ nhất. Điểm ba, chấp hành nghiêm kỷ luật của đơn vị. Điểm bốn, đoàn kết gắn bó với nhau như ruột thịt, đoàn kết chặt chẽ với đơn vị bạn. Điểm năm, sau khi đánh Pháp thắng lợi xong, trả bộ đội cho chính phủ về quê làm ăn, để thể hiện chúng ta là những người không tham quyền cố vị.
Chúng tôi nghe xong ai nấy đều phấn khởi tin tưởng, bởi năm điểm có tính chất cương lĩnh của chi đội do anh Vĩnh nêu ra đã đầy đủ và rất rõ ràng, không cần bàn cãi.
Sau này, có lúc nghĩ lại “tuyên bố năm điểm” của chi đội những ngày còn mới mẻ ấy, chúng tôi mới buồn cười, cứ thấy vui vui vì sự hồn nhiên, trong sáng đến ngây thơ của anh em ta lúc đó.
Tên gọi cụ thể của đơn vị chi đội là Chi đội Nguyễn Văn Vĩnh, có lúc lại nghe gọi là Cộng hoà vệ binh, sau có lúc đổi tên là Dân quân cách mạng Đệ nhị sư đoàn. Trong các cuộc họp sau này các đồng chí chỉ huy nói là đã bắt liên lạc được với anh Trần Văn Giàu, một cán bộ cấp cao ở Sài Gòn, nên chúng tôi được cấp thêm lương thực. Sau sự kiện Nam Bộ kháng chiến, tôi được nghe phổ biến: cả chi đội anh Vĩnh sáp nhập với đơn vị của anh Nam Long do anh Nam Long thống nhất chỉ huy và gọi là Vệ quốc quân.
Sau đợt này, đơn vị được lệnh dời địa điểm về trường Ta-be. Đến khoảng 15 tháng 8 năm 1945, tỉnh Bình Thuận có công văn gửi vào yêu cầu Sài Gòn cho lực lượng bộ đội ra chi viện. Theo yêu cầu của cấp trên, anh Vĩnh cử phân đội của tôi do anh Khiết làm phân đội trưởng, tôi làm phân đội phó, tất cả gồm hai mươi lăm anh em ra giúp tỉnh Bình Thuận.
Trước khi xuất phát, 8 giờ tối hôm đó anh Vĩnh gọi tôi vào kho đạn và đưa cho một bọc đạn để mang theo. Chúng tôi hành quân tới Phan Thiết thì nhận nhiệm vụ lên Mai Lâm đánh quân Pháp nhảy dù. Hành quân lên đến Mai Lâm lùng sục mãi không thấy địch, hỏi dân bảo không có, lại kéo nhau về Phan Thiết.
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, tôi báo cáo tình hình mấy ngày nắm địch của phân đội cho đồng chí Sáu Tú là Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh, Tỉnh ủy viên, sau đó phân đội được lệnh về Sài Gòn, chuẩn bị cho cướp chính quyền và mít tinh ở Sài Gòn.
Từ ngày 23 đến ngày 24 tháng 8 năm 1945, khí thế cách mạng không chỉ ở Sài Gòn, mà các địa phương và ven đô lên rất mạnh. Trên đường từ Phan Thiết vào, chúng tôi đi đến đâu cũng thấy dân tụ tập bàn tán về Việt Minh. Có đồng chí cán bộ địa phương còn nói: “Ông Trần Văn Giàu, một trí thức yêu nước đã tham gia biểu tình chống Pháp ngay tại Pa-ri thủ đô nước Pháp, bị trục xuất về nước, thoát tù tội lại tiếp tục ra hoạt động cách mạng, hiện đang lãnh đạo Việt Minh ở Sài Gòn, sẽ ra mắt nay mai. Còn Hà Nội, Huế ta đã tổng khởi nghĩa cướp chính quyền rồi, lãnh đạo tối cao của Việt Minh là cụ Hồ Chí Minh”.
Khởi nghĩa ở Sài Gòn đã được chuẩn bị từ trước và đến tối ngày 24 tháng 8 thì trở nên đặc biệt nhộn nhịp. Sáng ngày 25 tháng 8, có tới hàng chục nghìn công nhân và nhân dân lao động đã xuống đường mít tinh diễu hành ủng hộ Việt Minh. Người ta đã dựng lễ đài lớn ở ngã ba Norodom – Blansubê sau nhà thờ lớn với khẩu hiệu “Chính quyền về Việt Minh”, “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Độc lập hay là chết” bằng ba thứ chữ: Pháp, Việt, Anh. Sau khi mít tinh xong, đoàn người bắt đầu đi diễu hành thì từ một ngôi nhà trên phố có tiếng súng của Pháp bất ngờ bắn vào đoàn biểu tình, làm bị thương một số người. Lực lượng vũ trang của ta dùng ngay khẩu súng đại liên không chân trên xe bò đang kéo đi diễu hành nổ súng thẳng vào ngôi nhà nơi có tiếng súng phát ra, sau đó anh em bao vây ngôi nhà, bắt giam bọn phản động này.
Sau sự kiện 25 tháng 8, chúng tôi được lệnh rút ra ngoại thành để sẵn sàng chiến đấu. Trong thành chỉ để lại biệt động và dân quân du kích.
Sự kiện Nhật đảo chính Pháp rồi tiếp đến là Việt Minh lãnh đạo nhân dân ta cướp chính quyền tháng 8 năm 1945 diễn ra quá nhanh với một sức mạnh phi thường, khiến tôi bỗng hiểu ra rằng sức mạnh của quần chúng nhân dân khi đã giác ngộ cách mạng vô cùng to lớn. Sức mạnh đó có thể dời non lấp biển, có thể đè bẹp mọi kẻ thù xâm lược. Cũng từ đó tôi càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Bác và vững bước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Trong giờ phút biến đổi có tính chất bước ngoặt của lịch sử này, tôi bỗng nhớ lại chặng đường từ tuổi thơ ra đi kiếm sống và đến với cách mạng của mình mà thấy rưng rưng xúc động… Từ một chú bé mười ba tuổi bơ vơ trước dòng đời hối hả đi tìm cuộc mưu sinh, tôi đã may mắn gặp được những người lao động tuy nghèo khó nhưng giàu lòng nhân ái đã cưu mang giúp đỡ. Chính trong cuộc sống làm thợ, tôi đã gặp và được những người vô sản yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng dìu dắt, giúp đỡ, giáo dục lý tưởng cách mạng cho tôi. Lý tưởng đó thực ra rất trong sáng, giản dị như cơm ăn, nước uống hằng ngày - đó là sự nghiệp đấu tranh giành lấy cuộc sống độc lập, tự do cho dân tộc, là người cày có ruộng, là cơm no, áo ấm, là được học hành. Đó chính là sự nghiệp lớn lao, vĩ đại hơn tất cả mọi sự nghiệp mà những người thầy ở trường huyện gieo vào lòng lớp học trò chúng tôi.
Có lẽ hành trang lớn nhất mà tôi có được cho đến lúc đó để đi vào cuộc kháng chiến chống Pháp chính là sự nghiệp, là lý tưởng cách mạng náo nức trong trái tim tuổi mười chín phơi phới yêu đời.
(1) Sau này là Thượng tướng, Tư lệnh Quân khu 7.
(2) Tương đương một trung đoàn thiếu. Lúc đó tổ chức biên chế của bộ đội ta gồm tiểu đội, phân đội, trung đội, đại đội rồi đến chi đội.
(3) Hiện còn sống ở thành phố Hồ Chí Minh.
(4) Lúc này nhiều tổ chức phản động, nhiều gia đình nhà giàu cũng đứng ra chiêu tập lực lượng để phục vụ mục đích riêng.
Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên