"… Trước khi Toàn quốc kháng chiến nổ ra, tôi được giao nhiệm vụ đi dạy ở các lớp "Bình dân học vụ" tại Hà Nội. Lớp học của tôi khá đặc biệt bởi học sinh toàn các chị đã lớn tuổi làm nghề "cô đầu" ở phố Khâm Thiên. Thú thực, ban đầu vào nhận lớp, tôi cũng hơi ngại, bởi mình thì còn trẻ, mà trong số họ nhiều người khá dạn dĩ, vì thế họ còn trêu lại cả thầy. Thế nhưng, qua tiếp xúc mới thấy họ đều là những người có hoàn cảnh éo le, vì thời thế nên mới phải vào nghề "cô đầu, con hát".

Lớp học của chúng tôi tiến hành được một thời gian thì tiếng súng Toàn quốc kháng chiến nổ ra. Lớp học đành giải tán. Tôi được cử vào Liên khu II, giúp chị em phụ nữ Hàng Bột cấp tốc mở lớp đào tạo cứu thương để phục vụ sơ cứu anh em bị thương trong thành phố. Khi ấy, tôi cứ nghĩ chắc các chị "cô đầu" đã tản mát, hoặc về quê cả. Thế rồi một hôm tôi có chuyến công tác từ Chèm về đường số 1 phải đi qua Ngã Tư Sở. Vì đường sá trong thành phố lúc này đã bị chặn ngổn ngang, nên phải tìm đường đi tắt để khỏi đụng địch. Tôi đến Ngã Tư Sở thì trời cũng vừa tối, đang phân vân không biết tìm người ở đâu để hỏi đường thì thấy bóng một phụ nữ nai nịt gọn gàng, tay cầm thanh kiếm Nhật từ từ đi tới. Trông thấy tôi cũng vận quần áo vệ quốc, lại mang cả súng ngắn, nên chị có vẻ yên tâm. Tuy nhiên, chị vẫn hỏi giấy tờ. Sau khi xem xong, chị reo lên: "Ôi anh Kỳ, anh Kỳ! Anh không nhận ra em à. Em là học sinh lớp bình dân học vụ của anh đây mà…". Lúc ấy, tôi mới chú ý và cũng chỉ nhận ra đấy là một gương mặt rất quen trong số mấy chục gương mặt đã từng ở trong lớp bình dân học vụ của tôi.

Chị dẫn tôi vào trạm, tôi ăn uống xong thì một số nữ tự vệ khác cũng về đến. Trông thấy tôi, họ reo lên vui sướng như gặp được người thân. Thì ra sau khi lớp học giải tán, các chị không về quê, cũng không tản đi đâu mà cùng nhau trụ lại, xin gia nhập lực lượng tự vệ của Liên khu II. Khi vào lực lượng, người thì đi tiếp đạn, người thì tải thương, rồi làm liên lạc, tiếp tế hậu cần, cơm nước cho anh em chiến đấu ở các chiến hào. Có chị, ban ngày đi tiếp tế, ban đêm lại xung phong vào các tổ đắp ụ, đào hào để chặn quân địch. Nhiều chị đã vào tổ chiến đấu, trực tiếp cầm súng đánh lại quân địch. Trước ngày Toàn quốc kháng chiến, thật không ai nghĩ những con người này lại có thể làm được những việc lớn lao như vậy. Có lẽ Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã "thấm" vào những con người này và đã giúp họ "lột xác" thành những con người mới. Vì thế, họ đã kiên gan chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở Thủ đô trong suốt thời gian đầu của Toàn quốc kháng chiến, cho đến khi có lệnh rút ra ngoài bảo toàn lực lượng.

Chờ cho trời tối, hai chị tự vệ mới dẫn tôi qua khu Khương Thượng, Trường bay Bạch Mai, rồi ra đường số 1. Tôi nhìn hai chị lưng đeo kiếm Nhật, nai nịt gọn gàng khuất dần vào bóng tối mà không khỏi thương cảm. Họ không sinh ra ở Thủ đô, nhưng họ đã hiến dâng một phần mồ hôi và xương máu để bảo vệ Thủ đô. Trong quãng đời chiến đấu dưới bom rơi, đạn nổ của địch, cũng đã có chị bị thương, có chị hy sinh, nhưng có lẽ đến tận bây giờ nhiều người, trong đó có cả tôi vẫn chưa biết họ ở đâu để gửi một lời nhắn nhủ…".

TRẦN VŨ (Theo lời kể của bác Nguyễn Khắc Kỳ, chiến sĩ quyết tử Thủ đô)