QĐND - Trong những năm 1968-1972, để đáp ứng yêu cầu vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men ra chiến trường, Tiểu đoàn vận tải nữ 232, Cục Hậu cần Quân khu 5 còn gọi là Tiểu đoàn Bà Thao (do chị Phạm Thị Thao làm Tiểu đoàn trưởng) được thành lập, gồm hơn 700 cô gái tuổi từ 18 đến 22. Với những thành tích xuất sắc trong phục vụ chiến đấu, đơn vị đang được đề nghị Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Để bảo đảm an toàn tuyến đường hành lang vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men ra chiến trường, từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1971, trong đợt cao điểm phục vụ chiến dịch Quế Sơn-Tiên Phước, Cục Hậu cần Quân khu 5 điều một tiểu đội trinh sát gồm 16 nam quân nhân thuộc Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 260 tăng cường cho Tiểu đoàn vận tải nữ 232. CCB Nguyễn Cứ là 1 trong số những chiến sĩ trinh sát ấy.

Chiến sĩ Tiểu đoàn 232 vận chuyển vũ khí ra chiến trường. Ảnh tư liệu.

Ông Cứ bồi hồi kể: “Cán bộ, chiến sĩ tiểu đội trinh sát hầu hết quê ở miền Bắc. Đang bảo vệ khu tăng gia sản xuất của Trung đoàn 260 tại Bờ Huỳnh, Bờ Xá (Phước Sơn, Quảng Nam), nhận nhiệm vụ mới tâm trạng ai nấy đều phấn chấn bởi cảm giác được ra trận. Đơn vị phân công mỗi tốp 3 người đảm nhận một cung đường. Tôi tham gia chốt từ Trạm 10 – Cây Gỗ Vuông qua bến đò Trà Linh, Ngã Ba An Tân đến Bờ Hỳnh Bờ Xá, ước khoảng 6 cây số đường rừng. Đoạn này có một cái dốc khá cao mang tên dốc thanh niên. Bây giờ mỗi lần nhớ đến cái tên đầy ý nghĩa ấy tôi lại mường tượng câu hát “Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi”. Chị em Tiểu đoàn 232 đều rất trẻ, mười tám, đôi mươi, căng tràn nhựa sống. Tôi nhớ mãi ấn tượng về Tiểu đoàn trưởng Phạm Thị Thao: Da trắng, tóc dài, nói năng nhẹ nhàng, rất được mọi người tín nhiệm. Chúng tôi cũng mới hai mươi, hăm hai, song kỳ lạ là ngày ấy chẳng ai tơ tưởng chuyện trăng sao, chỉ thấy thương nhau còn hơn ruột thịt. Đường dốc cheo leo, cây rừng chằng chịt trên đầu, hàng vừa nặng vừa cồng kềnh, thế mà các chị như những ong thợ mải miết, cần mẫn đi về. Những hôm mưa to, tấm ni-lon dành che hàng, cả người ướt sũng. Vắt và muỗi rừng nhiều vô kể, lúc nào cũng khát máu người. Nhưng lo nhất vẫn là bị địch phục kích, tàu rọ bắn phá. Đi hộ tống các chị, ba anh em chúng tôi mỗi người một khẩu AK, 3 băng đạn, 2 quả lựu đạn; người khoá đầu, người khóa đuôi, người đi ở giữa. Khi có tình huống xảy ra, chúng tôi ra hiệu cho các chị cùng hàng hoá tản ra, khẩn trương tìm nơi trú ẩn, chờ tín hiệu báo yên lại tiếp tục hành quân. Do nguy hiểm luôn rình rập nên thần kinh lúc nào cũng căng như dây đàn. Đi trong rừng hàng tiếng đồng hồ nhưng ít khi chúng tôi nói chuyện với nhau. Có chị đang gùi hàng bị trượt chân vấp ngã, mặt mũi tay chân xây xước. Có người bị sốt rét phải cáng vào điều trị tại các đội phẫu. Nhưng chị em kiên cường lắm, cứ ngơi sốt là xuống võng cõng hàng. Công việc nặng nhọc, cường độ cao, ăn uống kham khổ song không ai kêu ca, phàn nàn. Thương chúng tôi đi chiến đấu xa quê, xa người thân, có dịp về đồng bằng đổi hàng cho đơn vị, chị em thường dành mua cho cánh trinh sát khi một lọ dầu thơm, lúc bánh xà phòng… Nhận quà của các chị, mắt chúng tôi cay nồng. Đến tận bây giờ tôi vẫn thường mơ về những kỷ niệm êm đềm ấy.

Ngày 19-5-1971, kết thúc đợt cao điểm vận chuyển hàng phục vụ chiến dịch, tiểu đội trinh sát chúng tôi được lệnh trở lại đơn vị cũ. Một tháng trôi qua thật nhanh. Nhiều chị tôi nhớ mặt mà không kịp biết tên, có chị lại biết tên mà không nhớ mặt…”.

Cuối năm 1972, H2 – Cục Hậu cần Quân khu được thành lập, ông Cứ được biên chế về đây. Cũng thời điểm này, Tiểu đoàn 232 giải thể, một bộ phận quân nhân của đơn vị, trong đó có nữ chiến sĩ Kiều Thị Chánh (Đại đội 2) về nhận công tác tại H2. Những câu chuyện của một thời không thể nào quên ở 232 đã đưa họ đến gần nhau hơn và tình yêu khởi nguồn từ tình đồng chí đã đơm hoa kết trái. Hiện nay, căn nhà nhỏ trên đường Nguyễn Tri Phương của họ trở thành một trong những địa chỉ liên lạc của Tiểu đoàn 232 mỗi khi đơn vị tổ chức gặp mặt truyền thống.

Đỗ Thị Ngọc Diệp