Kỷ niệm Ngày Thương binh-liệt sĩ đã đến gần, tôi về thôn Mỹ Đức, xã Sơn Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình tìm nhân vật trong đời thực mà tôi ngưỡng mộ qua báo chí những ngày đất nước còn chiến tranh. Ở đây ai cũng biết người ấy, vì thế, chẳng mất nhiều công, tôi đã tìm được nhà bà. Ở với người con gái út làm nghề thợ may, giúp con trông cháu, bà không chút rỗi rảnh. Nhưng biết tôi từ Đồng Hới lên, với tác phong của một người từng là Chủ tịch UBND xã, bà bảo con gái ngừng việc, trông con để bà dẫn tôi lên phòng khách, tiếp chuyện.

Năm nay vừa tròn 74 tuổi, bà Nguyễn Thị Sách tóc bạc, da nhăn, song vẫn lộ vẻ lanh lợi trong cử chỉ và khúc triết trong lời. Câu chuyện xảy ra, hôm nay vừa tròn 42 năm, nhưng theo tôi, mãi mãi nó vẫn mới mẻ, hấp dẫn như một thiên truyện cổ tích.

- Đó là một ngày giữa tháng 4-1965. Sau khi đánh vào Đồng Hới (7-2-1965) mở màn chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ ra tay diệt cống, phá cầu dọc tuyến đường Quốc lộ 1A và đường 15A, phía Tây Quảng Bình để ngăn chặn dòng người, dòng xe đang tuôn chảy vào chiến trường miền Nam.

Cầu Mỹ Đức 5 nhịp bắc qua sông Cẩm Lý là mục tiêu đánh phá của không lực Hoa Kỳ. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 nhận định như vậy và đưa ngay một đại đội pháo phòng không, trong đó có nhiều sĩ quan của Học viện Kỹ thuật quân sự đi thực tập, về lập trận địa bố phòng. Quả vậy, trong hai ngày 18 và 19-4-1965, 18 máy bay Mỹ đã phải đền tội, trước khi chiếc cầu bị phá sập.

Lệnh của Quân ủy Trung ương, phải cấp tốc nối đường 15A đoạn qua sông Cẩm Lý. Thế là, một đại đội công binh của đoàn 559 được điều về, cùng với lực lượng TNXP ngày đêm lập bến phà, cách cầu cũ bị phá sập gần 1km về hướng Đông.

Khi bến phà sắp hoàn thành thì máy bay trinh sát Mỹ phát hiện được. Những trận mưa bom tọa độ của máy bay Mỹ ngày đêm trút xuống. Nhiều chiến sĩ công binh và TNXP hy sinh nhưng công việc vẫn hối hả hoàn thành. Một trận mưa bom định mệnh chiều 7-5-1965, không những tổn thất cho những chiến sĩ đang làm bến phà mà còn giết hại 37 người dân vô tội thôn Cẩm Lý, Mỹ Đức, cùng hàng trăm người khác bị thương.

Nguyễn Thị Sách lúc đó là đội phó đội sản xuất của HTX, vừa là khẩu đội trưởng khẩu đội súng 12,7mm cùng nhiều anh chị em dân quân đi gom xương thịt và mai táng những người thân yêu của mình. Họ còn phân công vận chuyển những người bị thương lên cấp cứu, điều trị tại bệnh viện huyện, sơ tán tại vùng Mai Hạ, gần dưới chân dãy Trường Sơn.

Hôm sau, Nguyễn Thị Sách tranh thủ lên bệnh viện để thăm người nhà của mình.

Lúc chị đến, trong phòng mổ đang phẫu thuật ổ bụng một chiến sĩ công binh bị bom hôm qua. Lòng chị như lửa đốt khi nghe vọng ra tiếng các thầy thuốc báo cho nhau, bệnh nhân nếu không tiếp máu thì khó lòng qua khỏi. Một lúc sau, thấy một nữ y tá bước ra, dáng vẻ lo phiền, chị Sách bật đứng dậy, bước tới trước mặt nữ y tá kia, giọng rành rọt:

- Có phải anh bộ đội đang mổ kia cần tiếp máu phải không chị?

Nữ y tá gật đầu. Chị Sách liền túm lấy tay, nói với giọng như khẩn cầu:

- Thế thì tôi xung phong. Chị cứ lấy đi!

Các bác sĩ như gỡ được mối lo và họ càng phấn khởi hơn khi làm xét nghiệm, biết rõ máu của chị Sách cùng nhóm với người bị thương.

Máu được lấy nhanh từ ven tay chị Nguyễn Thị Sách và truyền sang người chiến sĩ công binh đang nằm trên giường mổ.

Một giờ nữa trôi qua. Thấy nữ y tá lúc nãy bước ra, nét mặt đượm buồn, chị sấn tới, hỏi ngay:

-Anh ấy răng rồi, có sống được không?

Nữ y tá buồn rầu đáp lại:

-Máu truyền vào nhưng vẫn chưa đủ, vì anh ấy mất nhiều máu quá.

-Thì chừ mần răng? Chị Sách sốt ruột hỏi lại.

- Để tôi đi vận động, người nào bị thương nhẹ thì nhường cho anh ấy ít máu.

Nhưng, nữ y tá ấy không thực hiện được, bởi vì, thương binh, bệnh nhân hiện ở trong bệnh viện đều yếu cả.

Trước nguy cơ cái chết sẽ đến với người chiến sĩ công binh, chị Nguyễn Thị Sách mạnh dạn, bước vào phòng mổ, nói với các bác sĩ:

- Các anh cứ lấy tiếp máu của tôi mà truyền cho anh ấy.

Bác sĩ trưởng khoa lắc đầu:

- Không được. Vừa cho máu xong, cho nữa nguy hiểm đến tính mạng của chị.

Sách đành lui ra, ngồi ngoài phòng mổ, lòng nóng hơn lửa đốt. Chợt, một ý nghĩ lóe lên… Chị đứng dậy, đẩy cửa phòng mổ bước vào, giọng tha thiết, van lơn, nói trong nước mắt:

- Các anh cứ lấy máu của tôi đi. Anh ấy là người yêu của tôi. Anh ấy mà hy sinh thì tôi sống mần răng?

Trước lời đề nghị thống thiết đó, bác sĩ trưởng khoa đành chấp nhận, làm một việc chưa từng làm bao giờ.

Thế là, nhờ tiếp máu lần thứ hai, đồng hồ chỉ huyết áp của chiến sĩ công binh đang phẫu thuật trên bàn mổ từ từ dâng lên. Nhịp tim của anh đập trở lại. Sự sống đã trở lại trên sắc da...

Lại rót nước mời tôi, bà Nguyễn Thị Sách tươi cười, hồn hậu trước cái nhìn đăm đăm bởi sự thán phục, kính trọng của tôi trước chuyện kể đầy hấp dẫn, kịch tính của bà. Bà nói:

- Thời đó, ai cũng vô tư trước cái chết. Miễn việc mình làm có ích cho xã hội là sẵn sàng. Tôi hiến máu cho thương binh thì đáng gì. Còn có người chết thay để đồng đội sống vì người ấy đã hẹn với người yêu rằng, hết chiến tranh sẽ về cưới nhau.

Hai lần hiến máu trong một giờ, Sách chỉ thấy choáng nhẹ. Xế chiều, chị ra về, lòng lâng lâng vì đã làm một việc hữu ích. Ai ngờ, những tháng sau đó, chị hay ốm vặt. Người uể oải, hay buồn ngủ và mái tóc cứ thay nhau rụng dần, sau mới biết, do mất máu quá nhiều trong một thời điểm khiến cơ thể mất thăng bằng, dẫn đến hiện tượng ấy.

Tôi hỏi:

- Nhưng sau đó, bà có gặp lại anh thương binh không?

Bà kể:

- Chuyện tôi hiến máu cứu thương binh, chỉ một tháng sau Bác Hồ biết, nhân một chuyến ra Hà Nội công tác của Ban cán sự Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Bình. Lập tức, Bác gửi ngay một huy hiệu của Người vào tặng.

Được nhận phần thưởng của Bác, bà càng phấn khởi lao vào công tác. Đảng ủy xã Sơn Thủy chuyển bà sang giữ chức trưởng Công an. Và đầu năm 1967, bà được vinh dự trong đoàn đại biểu chiến sĩ thi đua "Hai giỏi" của Quảng Bình ra Hà Nội báo cáo thành tích với Bác Hồ. Lần này, bà vinh dự được Bác Hồ tặng thêm một huy hiệu nữa của Người. Biết bà tuổi đã cao mà vẫn chưa xây dựng gia đình, Bác khuyên bà hãy lo chuyện gia thất.

Bà thưa lại với Bác rằng: "Bao giờ quê nhà hết chiến tranh, cháu mới lo hạnh phúc riêng của mình". Quả vậy, đến năm 1974, ở tuổi 33, bà mới lấy chồng. Ông là đại tá Hồ Sĩ Đạo, quê ở Bình Định, một sĩ quan của quân đội. Họ gặp và yêu nhau nhân hai người cùng về Hà Nội dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc. Nhưng năm 1992, chồng bà qua đời vì vết thương cũ tái phát... Bà dồn tình thương yêu cho hai cô con gái...

Câu chuyện hiến máu cứu thương binh của bà tưởng như quên lãng, thì vào năm 2000, nhân dịp xã Sơn Thủy, Lệ Thủy đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong các đại biểu, cán bộ, chiến sĩ từng sống, chiến đấu trên mảnh đất này về dự lễ, bất ngờ có một người tóc bạc, tuổi 72, tìm đến gặp bà. Lúc này, bà đã nghỉ hưu. Người đàn ông đó tên là Hà Minh Mẫn, kỹ sư của Tổng Công ty tư vấn thiết kế giao thông thuộc Bộ Giao thông-Vận tải quê ở đội 3, xã Thái Thịnh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, người mà ngày xưa, bà đã nhận là "người yêu" để tự nguyện hai lần hiến máu cứu ông.

Ông Hà Minh Mẫn kể lại cho bà Nguyễn Thị Sách biết, sau khi mổ được vài tuần, khi hồi tỉnh, ông mới biết có một phụ nữ tự nhận là người yêu để hiến máu cứu mình. Đang dò hỏi tên tuổi quê quán người cứu mình là ai thì đơn vị đã đưa xe đến đón ông về Hà Nội để điều trị tiếp ở Viện quân y 108. Mổ tiếp hai lần nữa, 24 tháng sau, ông ra viện với thẻ thương binh loại 2. Sau đó, ông xin vào làm việc ở phòng lưu trữ hồ sơ của Bộ Giao thông-Vận tải. Vừa làm, vừa học, ông đã tốt nghiệp khoa địa chất học công trình của Trường đại học Giao thông-Vận tải tại Hà Nội. Cả gia đình, bao năm đi tìm kiếm "người yêu" của ông năm xưa để đền ơn nhưng đều thất vọng. Năm 1999, con trai cả của ông là đại tá Hà Thanh Độ, Trưởng phòng Tham mưu Chính trị thuộc V26, Bộ Công an, trong một chuyến vào Quảng Bình công tác tìm được địa chỉ người 34 năm trước đã góp phần mang lại sự sống cho bố...

Sau lần ông, bà gặp nhau, hai gia đình xem nhau như chung một nhà. Họ thường thăm hỏi nhau, khi thì gửi thư từ, khi thì điện thoại...

Tháng 10-2006, ông Hà Minh Mẫn ốm nặng rồi qua đời. Trong phút lâm chung, ông không quên dặn vợ con gửi tiền vào Quảng Bình giúp đỡ bà Nguyễn Thị Sách đang trong hoàn cảnh khó khăn.

Nhận được tin "người yêu" mất, bà Nguyễn Thị Sách đáp tàu ra Thái Bình dâng hương vong hồn ông.

Chia tay ra về, tôi cứ ngoái nhìn mãi mảnh đất bà Nguyễn Thị Sách, lòng dâng lên bao niềm tự hào về con người, mảnh đất anh hùng ấy. Và rồi, tôi chợt nghĩ, Quảng Bình còn có biết bao người như bà Sách, bao mảnh đất anh hùng như Mỹ Đức, Sơn thủy. Tất cả đã và đang vang lên những khúc ca anh hùng trong đánh giặc và trong xây dựng quê hương ngày một đẹp giàu.

HỒ NGỌC DIỆP