Vận động đồng bào về lập bản
Để hiểu rõ hơn về kết quả thực hiện chủ trương trên của tỉnh Lào Cai, chúng tôi tìm về bản Pho, xã A Mú Sung, huyện Bát Xát. Trước năm 2008, người dân bản Pho chủ yếu sinh sống trên những triền núi cao, đường đi lại khó khăn, nguồn nước không bảo đảm, sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, khiến cái đói, cái nghèo cứ đeo bám suốt nhiều năm. Trước thực trạng trên, cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 345, Bộ CHQS tỉnh Lào Cai đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền huyện Bát Xát; đồng thời phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng trên địa bàn vận động bà con rời núi cao về định cư tập trung ở bản. Nói về công tác vận động đồng bào, Đại tá Lương Tiến Dũng, Chính ủy Đoàn KT-QP 345 cho biết: “Đoàn cử trực tiếp cán bộ phối hợp với các lực lượng đến từng nhà để vận động, tuyên truyền bà con di dời về nơi ở mới. Nói thì đơn giản vậy, nhưng để có được thành quả như ngày hôm nay thực sự là một "cuộc cách mạng" đối với đồng bào và cả với chúng tôi”. Quả thật, nghe các anh kể chuyện, chúng tôi cũng không thể hình dung hết được sự vất vả nhưng cũng rất công phu trong tuyên truyền, vận động nhân dân rời núi cao về lập bản mới. Theo đồng chí Nguyễn Hồng Sơn, Bí thư Đảng ủy xã A Mú Sung thì công tác vận động đồng bào vùng cao rất cần đòi hỏi sự kiên trì của người cán bộ. Bởi, lâu nay bà con đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào Mông đã quen với tập tục sống du canh du cư, đốt nương làm rẫy. Cứ sau một thời gian, bà con thấy đất bạc màu là lại chuyển đến vùng đất mới.
Cán bộ Đoàn KT-QP 345 hướng dẫn bà con kỹ thuật trồng cỏ voi làm thức ăn cho trâu, bò.
Hiểu rõ tập tục của đồng bào, cán bộ Đoàn KT-QP 345 và cán bộ địa phương đã bám trụ ngày đêm, cùng lên nương, cùng ăn, cùng ở với bà con để tuyên truyền, vận động. Nội dung tuyên truyền tập trung giúp bà con hiểu rõ được những lợi ích của việc rời núi cao về lập bản. Mặt khác, cấp ủy, chính quyền địa phương còn cử cán bộ là người dân tộc ít người, những hộ dân đang sinh sống tại nơi ở mới trực tiếp tuyên truyền, vận động đồng bào; tổ chức cho bà con về bản định cư tham quan hệ thống đường bê tông, nước sạch dẫn về tận gia đình, nhà văn hóa, trường mẫu giáo và một số mô hình phát triển kinh tế... Là người trực tiếp tham gia vận động đồng bào mình từ bỏ lối sống du canh du cư, anh Vàng A Sử, Trưởng bản Pho cho biết: “Gia đình tôi từng sống nhiều năm theo tập tục cũ. Cuộc sống du canh du cư khổ lắm! Từ khi về bản, được ở trong nhà mới kiên cố, con cái học cái chữ, cán bộ xã, Đoàn KT-QP 345 hướng dẫn trồng ngô lai, trồng chuối mô nên đời sống gia đình bây giờ khá ổn định”. Từ thực tế đổi thay của gia đình, Vàng A Sử đã tuyên truyền, vận động đồng bào Mông về bản Pho sinh sống một cách hiệu quả. Từ hơn 10 hộ dân năm 2008, đến nay, bản Pho đã có 31 hộ dân với gần 300 khẩu, trong đó đồng bào Mông có 27 hộ, đồng bào Dao 2 hộ và 2 hộ là người Kinh.
Một minh chứng khác là bản Pạc Tà, xã A Mú Sung-một điểm dân cư tập trung được Đoàn KT-QP 345 hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thì 8 năm về trước, chỉ có gần 20 hộ dân sinh sống. Đến nay, nhờ làm tốt công tác vận động, toàn bản đã có 57 hộ với hơn 300 nhân khẩu.
Với cách làm trên, Đại tá Nguyễn Văn Đô, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 345 cho biết: “Hiện nay, đơn vị đã triển khai xây dựng được 11 điểm dân cư tập trung, trải dài trên địa bàn 6 xã biên giới của huyện Bát Xát. Trong đó, 5 điểm dân cư tập trung, gồm các bản: Pho, Pạc Tà, Lũng Pô 2, Tùng Sáng thuộc xã A Mú Sung và bản Sin San thuộc xã Y Tý là những nơi được Đoàn KT-QP 345 cùng cấp ủy, chính quyền địa phương đầu tư xây dựng đầy đủ, hoàn chỉnh hệ thống đường bê tông liên gia, liên bản, hệ thống nước sạch, nhà văn hóa, trường mầm non, mô hình vườn rau xanh... Sáu điểm dân cư còn lại đang được đơn vị tích cực triển khai, hoàn thiện các tiêu chí về xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và phát triển các mô hình kinh tế”.
Hỗ trợ sản xuất, ổn định đời sống
Một trong những vấn đề được cấp ủy, chính quyền 6 xã dọc tuyến biên giới của huyện Bát Xát đặc biệt quan tâm là hỗ trợ, quy hoạch sản xuất để đồng bào về nơi ở mới yên tâm gắn bó, bám bản lâu dài. Giải quyết bài toán này, các địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Đoàn KT-QP 345 hỗ trợ nhân dân phương tiện, vật tư để sản xuất thông qua các mô hình khuyến nông, khuyến lâm. Qua đó, đã vận động nhân dân chuyển đổi 250ha từ trồng lúa 1 vụ sang 2 vụ và hơn 90% diện tích lúa lai, ngô lai; trồng 125ha chè, 90ha dứa, 70ha chuối mô, ớt, cà chua, su hào, bắp cải... Phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ Bát Xát, các ban, ngành chức năng của huyện hướng dẫn nhân dân 6 xã trồng 650ha rừng...
Cán bộ Đoàn KT-QP 345 hướng dẫn bà con kỹ thuật chăm sóc cây chuối.
Một trong những mô hình hiệu quả đang được bà con vùng biên giới Bát Xát áp dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cao là mô hình trồng chuối mô. Đồng chí Nguyễn Hồng Sơn, Bí thư Đảng ủy xã A Mú Sung cho biết: “Sau một thời gian thử nghiệm ở bản Lũng Pô 2, xã A Mú Sung, cây chuối trồng bằng mô phù hợp với điều kiện khí hậu, chất đất trên địa bàn, cho thu nhập trung bình hơn 100 triệu đồng/ha. Từ mô hình điểm, đến nay việc trồng chuối mô đã được xã nhân rộng hơn 200ha, đem lại thu nhập ổn định cho người dân”. Là một trong những hộ dân áp dụng mô hình trồng chuối mô, anh Vàng A Chớ, ở bản Pạc Tà, xã A Mú Sung nói: “Trước đây, gia đình tôi trồng lúa nương, không đủ no cái bụng. Từ khi được cán bộ Đoàn KT-QP 345 hướng dẫn kỹ thuật trồng chuối mô, gia đình tôi đã áp dụng trồng hơn 2.000 gốc. Năm 2015, vụ chuối đầu tiên, tôi thu về hơn 60 triệu đồng. Nhờ trồng chuối mô nên bây giờ gia đình tôi không lo đói nữa!”.
Là cán bộ trực tiếp xuống từng bản hướng dẫn bà con kỹ thuật trồng chuối mô, Trung tá Phạm Lê An, Đội trưởng Đội sản xuất và xây dựng cơ sở chính trị số 2 (phụ trách hai xã A Mú Sung và A Lù) thuộc Đoàn KT-QP 345 chia sẻ: “Đội đã lựa chọn gia đình các trưởng bản trên địa bàn triển khai làm điểm để bà con học tập. Về kỹ thuật trồng chuối mô, đội cử cán bộ trực tiếp xuống hướng dẫn bà con từ cách đào hố, bón phân hữu cơ, đặc biệt là kỹ thuật chăm sóc buồng chuối để quả ra đều, đẹp, cho hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ cây chuối không bị đổ khi gió mạnh”.
Bên cạnh việc hướng dẫn bà con trồng và nhân rộng mô hình chuối mô, cán bộ Đoàn KT-QP 345 còn hỗ trợ kỹ thuật trồng lúa lai 2 vụ, ngô lai 2 vụ; tuyên truyền, vận động, hỗ trợ người dân xây dựng chuồng nuôi gia súc xa nơi ở... Nhờ vậy, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn 6 xã vùng biên giới Bát Xát từ hơn 90% năm 2005 giảm xuống còn 76,26% đầu năm 2016.
Từ điểm sáng về sắp xếp, ổn định dân cư ở 6 xã vùng biên huyện Bát Xát, có thể khẳng định: Với sự chung tay, góp sức, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chủ trương đẩy mạnh quy hoạch sản xuất gắn với sắp xếp dân cư ở các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Lào Cai đã bước đầu đem lại hiệu quả. Thực hiện chủ trương trên không chỉ giúp đồng bào nâng cao chất lượng cuộc sống, mà còn là cơ sở vững chắc xây dựng vành đai biên giới bình yên.
Bài và ảnh: DUY THÀNH - CAO TƯỜNG