Chiến thắng Biên giới Thu-Đông 1950 khẳng định tầm nhìn chiến lược và những quyết sách sáng tạo, hiệu quả của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng ta.

Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950 là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông biên giới, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc. Chiến dịch diễn ra khẩn trương, quyết liệt trong suốt 29 ngày đêm và giành thắng lợi vang dội, làm xoay chuyển cục diện chiến trường theo hướng hoàn toàn có lợi cho ta.

leftcenterrightdel

 Khẩu đội Pháo Phòng không Lữ đoàn 210 (Quân khu 1) luyện tập sẵn sàng chiến đấu. Ảnh: DƯƠNG HÀ

Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950 là sự kết tinh sức mạnh tổng hợp của cả nước, thành quả của cuộc chiến đấu kiên cường suốt 5 năm (1945-1950) trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới, từ thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập (Lạng Sơn)-một địa bàn chiến lược trọng yếu, tạo nên thế trận mới vững chắc; làm phá sản âm mưu “khóa chặt biên giới Việt-Trung” và chọc thủng “hành lang Đông-Tây” của thực dân Pháp. Thủ đô kháng chiến Việt Bắc không những được giữ vững, mà còn được củng cố, mở rộng, trở thành vùng tự do, an toàn; niềm tin vào thắng lợi của quân và dân cả nước ngày càng thêm vững chắc; nối liền đường giao thông quốc tế giữa căn cứ địa Việt Bắc (Việt Nam) với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Chiến thắng Biên giới Thu-Đông 1950 đã đập tan ý đồ bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận các nguồn viện trợ về vật chất, vũ khí, trang bị quân sự và học hỏi kinh nghiệm tổ chức chiến đấu của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Từ đây, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam chuyển từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn.

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta là thất bại nặng nề của thực dân Pháp, kể từ khi chúng quay lại xâm lược Việt Nam (23-9-1945). Quân xâm lược Pháp không những bị tổn thất lớn về sinh lực, buộc phải rút khỏi Liên khu Biên giới Đông Bắc cùng nhiều vùng trọng yếu khác, như: Lào Cai, Hòa Bình, Thái Nguyên... mà còn bị quân và dân Việt Nam giáng một đòn chí mạng vào mưu đồ xâm lược, đẩy mâu thuẫn nội bộ giữa giới lãnh đạo, chỉ huy ở Đông Dương và chính quyền Pa-ri ngày càng sâu sắc; thế và lực chiến tranh xoay chuyển hoàn toàn bất lợi đối với thực dân Pháp. Đánh giá về thất bại của quân xâm lược Pháp, tại Hội nghị tổng kết kinh nghiệm Chiến dịch Biên giới, đồng chí Trường Chinh khẳng định đây là “thất bại chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp”(1).

Nhân tố quyết định thắng lợi có ý nghĩa bước ngoặt này là tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, nhận định chính xác tình hình, kịp thời hạ quyết tâm mở chiến dịch, tạo bước ngoặt cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc phát triển.

Hơn bốn năm lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta đã đúc rút nhiều bài học kinh nghiệm, trưởng thành vượt bậc trong quá trình tổ chức, chỉ đạo chiến tranh, nhất là năng lực phân tích, dự báo tình hình và hạ quyết tâm quyết chiến chiến lược. Đầu năm 1950, Đảng ta sáng suốt nhận định: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam phát triển đang có lợi cho ta, bất lợi cho Pháp về tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường Đông Dương; thế và lực của ta ngày càng lớn mạnh, quân Pháp càng đánh càng suy nhược. Từ đó, Trung ương Đảng xác định năm 1950 là năm bản lề giữa hai giai đoạn chiến lược, năm chuyển biến lớn-quyết định để quân và dân ta vượt qua giai đoạn cầm cự, chuyển sang giai đoạn tổng phản công; là cơ sở vững chắc để Đảng ta hạ quyết tâm chiến lược mở Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950 với niềm tin giành thắng lợi.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược, tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba ( từ ngày 21-1 đến 3-2-1950), Đảng ta đã thông qua chủ trương gấp rút chuẩn bị và chuyển mạnh sang tổng phản công. Chương trình công tác năm 1950 nhấn mạnh: “Chuẩn bị đầy đủ và mau chóng chuyển sang tổng phản công, làm cho năm 1950 này là năm đại thắng lợi”(2). Chương trình công tác gồm 10 điểm, trong đó tập trung xây dựng bộ đội chủ lực, tăng cường bộ đội địa phương, phát triển dân quân và các đội quân ngầm, phát triển chiến tranh du kích đến cực độ; tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực và tinh thần của toàn dân... Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về mở Chiến dịch Tây Bắc và chuẩn bị chiến trường Đông Bắc ngày 6-1-1950 đã khẳng định: “Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc cho thật đầy đủ để khi có đủ điều kiện sẽ mở một chiến dịch lớn, quét địch ra khỏi Đường số 4 và một đoạn bờ bể, đánh bại quân địch trong vùng Đông Bắc”(3). Ở Đông Bắc, “công tác chuẩn bị cần chú trọng đến củng cố và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích miền bể... điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đến đánh... phải chuẩn bị trên một phạm vi rộng lớn, cần huy động rất nhiều người. Các cấp ủy đảng phải tuyệt đối giữ bí mật; chỉ những ai có trách nhiệm mới được biết chủ trương của Trung ương... Muốn chuẩn bị cho thật đầy đủ và kịp thời và để tất cả mọi lực lượng hướng vào mục tiêu chính một cách có kế hoạch, các cấp ủy đảng phải ra sức lãnh đạo phối hợp quân dân chính thật chặt chẽ, thật ăn khớp”(4). Đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo rất quan trọng của Trung ương Đảng về tư tưởng, tổ chức và hành động đối với Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950. Nếu không có bước chuẩn bị chắc chắn, quân và dân ta sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là trước khi vào thực hành chiến dịch.

Thứ hai, chuyển hướng chiến lược tiến công kịp thời, chính xác.

Đây là thành công nổi bật, mang tầm chiến lược của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950. Theo dự kiến ban đầu, Trung ương Đảng chủ trương: “Mở chiến dịch Tây Bắc để phối hợp với Quân giải phóng Trung Quốc tiêu diệt tàn quân Quốc dân Đảng nếu chúng tràn qua biên giới. Làm tan rã khối ngụy binh và phá ngụy quyền, khôi phục lại Lào Kay (Lào Cai) mở thông đường quốc tế... Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc cho thật đầy đủ”(5), vì chiến trường Tây Bắc theo nhận định đánh giá của Trung ương Đảng là nơi quân địch sơ hở và yếu nhất. Song, do sự phát triển nhanh chóng của tình thế cách mạng, Trung ương Đảng đã nhạy bén, linh hoạt chuyển hướng chiến lược từ Tây Bắc sang Đông Bắc. Hướng Đông Bắc, đang từ hướng quan trọng trở thành hướng chiến lược; ngược lại, hướng Tây Bắc đang là hướng chiến lược trở thành hướng phối hợp. Quyết sách này thể hiện tư duy chiến lược sáng suốt của Đảng ta trên cơ sở tình thế cách mạng đã có những chuyển biến căn bản, có lợi cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Sự chuyển hướng chiến lược sang Đông Bắc đã trực tiếp làm phá sản Kế hoạch Revers của thực dân Pháp hòng củng cố tuyến phòng thủ biên giới Việt-Trung và phong tỏa bờ biển Việt Nam một cách nghiêm ngặt; củng cố tuyến hành lang Đông-Tây; chiếm giữ Đồng bằng Bắc Bộ; củng cố khu phòng thủ tứ giác Lạng Sơn-Móng Cái-Hà Nội-Hải Phòng; bao vây, cô lập, tiêu diệt quân ta. Hơn nữa, hướng Đông Bắc, đặc biệt là đoạn Cao Bằng-Đông Khê trở thành nơi xung yếu và sơ hở, dễ bị công phá nhất trong hệ thống phòng thủ biên giới của quân Pháp. Do đó, bước chuyển hướng chiến lược từ chiến trường Tây Bắc sang chiến trường Đông Bắc nhằm giải phóng hoàn toàn biên giới khu vực này, phá thế bị bao vây, cô lập, nối thông với hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc trở thành quyết tâm chiến lược lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong Chiến dịch Biên giới.

Thực tiễn chiến dịch diễn ra đúng như tính toán chiến lược của Trung ương Đảng và đã giành được thắng lợi vang dội, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. Ta không chỉ tiêu diệt sinh lực tinh nhuệ của địch mà còn giải phóng một vùng đất đai rộng lớn gồm nhiều địa bàn chiến lược xung yếu, căn cứ địa kháng chiến được củng cố và mở rộng, giao lưu quốc tế thuận lợi, nối liền với Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân.

Thứ ba, tập trung lực lượng lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Quân đội, tổ chức chỉ huy chặt chẽ, đoàn kết thống nhất cao.

Chiến dịch Biên giới được thực hiện trong thế trận chung với sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các chiến trường trên cả nước, từ Bắc Bộ, Trung Bộ đến Nam Bộ; từ đồng bằng đến miền núi, thành thị và nông thôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, chỉ huy thống nhất của Bộ chỉ huy chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp phụ trách. Đảng ủy Mặt trận Biên giới được thành lập ngày 25-7-1950 theo quyết định của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, trực thuộc Trung ương Đảng, có nhiệm vụ và quyền hạn lãnh đạo về mọi mặt quân sự, chính trị đối với các đảng bộ lực lượng vũ trang tham gia chiến dịch, có quyền ra chỉ thị cho Liên khu ủy Liên khu Việt Bắc, các tỉnh đảng bộ trong phạm vi chiến dịch nhằm thống nhất chủ trương chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, tổ chức quần chúng, chính quyền, tổ chức đảng các cấp, huy động tối đa nhân lực, vật lực của địa phương đáp ứng yêu cầu của chiến dịch. Những tướng lĩnh cấp cao của Quân đội ta đã được phân công tham gia chiến dịch, như: Đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng; đồng chí Phan Phác, Quyền Tổng Tham mưu phó; đồng chí Lê Liêm, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp...

Sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Bộ chỉ huy chiến dịch và các tướng lĩnh cao nhất của quân đội đã tham mưu giúp Trung ương Đảng kịp thời điều chỉnh kế hoạch không đánh thị xã Cao Bằng như tính toán ban đầu mà chuyển sang tập trung lực lượng đánh vào Đông Khê, điểm tử huyệt của quân Pháp, tạo ra thế trận đánh điểm, diệt viện trong toàn chiến dịch, đưa chiến dịch giành thắng lợi hoàn toàn. Tổng lực lượng tham gia chiến dịch quy mô tương đương hai đại đoàn, lớn nhất tính tới thời điểm đó, gồm Đại đoàn 308, hai trung đoàn 209 và 174, ba tiểu đoàn độc lập 426, 428, 888, các đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn; cùng với phần lớn lực lượng pháo binh và công binh của Bộ Tổng Tư lệnh được huy động cho chiến dịch quan trọng này.

Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo tập trung khối binh lực lớn cho Chiến dịch Biên giới, Trung ương Đảng còn chỉ đạo quân và dân cả nước đẩy mạnh tiến công nhằm kiềm chế, ngăn chặn sự chi viện của địch cho chiến trường Cao-Bắc-Lạng. Ngày 12-8-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động Tuần lễ thi đua giết giặc lập công, nêu rõ trọng tâm công tác của quân và dân cả nước là đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp, tăng cường công tác binh địch vận, tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực... phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với Chiến dịch Biên giới. Tiếp theo, ngày 2-9-1950, trong lời kêu gọi về Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm: “Chúng ta quyết đánh thắng trận này. Để đánh thắng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận ấy phải kiên quyết, dũng cảm trăm phần trăm; các chiến sĩ các khu, các mặt trận khác phải ra sức thi đua giết giặc lập công để hết sức tiêu diệt địch, khiển chế địch, không cho chúng tiếp viện Mặt trận Cao-Bắc-Lạng”(6).

Nhận rõ tầm vóc, giá trị và ý nghĩa chiến lược của Chiến dịch Biên giới, ngày 6-8, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Liên khu ủy Việt Bắc xác định rõ nhiệm vụ của quân và dân Việt Bắc trong Thu-Đông 1950. Hơn thế nữa, hạ tuần tháng 8-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường ra trận cùng Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Sau khi xem xét kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị mọi mặt, chiều ngày 10-9, tại Sở chỉ huy chiến dịch, Người phê chuẩn quyết tâm chiến đấu.

Nhờ sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt, quyết tâm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta được phát huy cao độ, các mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định của Ban Thường vụ Trung ương Đảng lập tức được truyền đạt đến cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường.

Thứ tư, chủ động xây dựng, quán triệt và tổ chức thực hiện sáng tạo phương châm tác chiến chiến lược vào thực tiễn chiến đấu.

Đây là nét nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng ta đối với Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950. Trước đó, đầu năm 1949, tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu (từ ngày 14 đến 18-1-1949), Đảng ta đã đề ra phương châm chiến lược: “Du kích chiến là cơ bản, vận động chiến là phụ trợ. Nhưng cần mạnh bạo đẩy vận động chiến đi tới và khi đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng để tiến sang giai đoạn phản công”(7). Phương châm đã được quán triệt và gấp rút thực hiện bằng các giải pháp cụ thể: Xây dựng bộ đội, phát triển lực lượng dân quân, kiện toàn cơ quan chỉ huy, đào luyện cán bộ, xây dựng nền lý luận quân sự Việt Nam, chấn chỉnh công việc tuyên truyền các chiến công của bộ đội và dân quân... Đối với công tác cán bộ, Đảng ta nhấn mạnh: Đào tạo và rèn luyện cán bộ có năng lực chỉ huy điều khiển bộ đội tập trung và đánh vận động chiến.

Bên cạnh đó, Đảng còn chỉ đạo quân và dân ta đánh mạnh và táo bạo hơn nữa vào hậu phương địch, các vị trí chiến lược, cắt các đường giao thông quan trọng, nhất là các trung tâm chính trị của quân xâm lược Pháp; từ chủ động chiến dịch đi đến chủ động chiến lược từng bộ phận một cách mạnh bạo hơn; nỗ lực chuẩn bị tổng phản công, chuẩn bị trong kế hoạch chiến lược, trong xây dựng bộ đội và chuẩn bị về tinh thần cho toàn quân, toàn dân... Đây là những vấn đề hệ trọng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là cơ sở chỉ đạo hoạt động tác chiến trên chiến trường. Đối với chiến trường Đông Bắc cũng vậy, để bảo đảm cho bộ đội “đánh điểm, diệt viện” giành thắng lợi, Đảng ta chỉ đạo cần có sự thống nhất về phương châm tác chiến chiến lược toàn chiến trường, trực tiếp là chiến trường Bắc Bộ. Trong Chiến dịch Biên giới, Đảng ta hạ quyết tâm đánh địch ở Cao Bằng, Lạng Sơn cùng với thực hiện các biện pháp nghi binh chiến lược trên hướng Tây Bắc, làm cho thực dân Pháp lầm tưởng ta chuẩn bị cho chiến dịch ở Lào Cai. Nhờ thực hiện tốt phương châm tác chiến chiến lược này nên Bộ chỉ huy quân đội Pháp không thể điều động lực lượng cơ động chiến lược từ bên ngoài ứng cứu cho cụm cứ điểm Đông Khê khi bị quân ta đánh chiếm. Mặt khác, tạo ra sự phối hợp hành động chặt chẽ trong việc kìm giữ, chia cắt hoặc nghi binh lừa địch giữa các địa phương, chiến trường, tạo điều kiện cho lực lượng tham gia Chiến dịch Biên giới chủ động trong cách đánh, giành thắng lợi, tạo bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950 là một trong những chiến dịch điển hình về tầm nhìn chiến lược và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị về lý luận và thực tiễn tổ chức chiến dịch. Đó là bài học về sự lãnh đạo của Đảng, về nghệ thuật chỉ đạo điều hành chiến tranh và phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, về huy động tiềm lực và khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh tổng hợp... Trong đó, bài học về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược tài tình, sắc bén của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn, sâu sắc nhất, bao trùm và chủ đạo nhất. Nhờ có tầm nhìn chiến lược và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, nhạy bén, Đảng ta đã đánh giá đúng thực lực kẻ thù, đề ra chủ trương, phương châm tác chiến chiến lược kịp thời, chính xác, động viên cao độ tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta; tập trung mọi nguồn lực cho tiến công địch trên một hướng xác định, trong thời điểm quyết định, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, theo hướng có lợi cho ta.

Hiện nay, quân và dân cả nước ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII, hướng tới Đại hội XIII của Đảng. Kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Biên giới Thu-Đông (1950-2020) là dịp quan trọng để chúng ta ôn lại chiến thắng vẻ vang của cách mạng Việt Nam, tôn vinh và tri ân các anh hùng liệt sĩ đã cống hiến tuổi xuân, trí tuệ, máu xương cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; khơi dậy niềm tự hào, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo thêm động lực cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giành nhiều thắng lợi trong giai đoạn mới của cách mạng.

----------

(1) Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, tập 2, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr.250.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H, 2001, tr.102.

(3) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Sđd, tr.8.

(4) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Sđd, tr.8-9.

(5) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Sđd, tr.8.

(6) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Sđd, tr.475.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H, 2001, tr.1-2.

Đại tướng LƯƠNG CƯỜNG, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam