Những thắng lợi trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên được tạo nên bởi nhiều nguyên nhân, trong đó, sự chỉ đạo kịp thời, đúng đắn, sáng tạo của Quân ủy Trung ương (QUTƯ) và Bộ Quốc phòng đóng vai trò quyết định.

1. Đánh giá chính xác tình hình, chủ động nắm bắt thời cơ, quyết định mở cuộc tiến công trên hướng phối hợp quan trọng

Bước vào năm 1972, cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, toàn diện, có ý nghĩa chiến lược, góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh tại Đông Dương nói chung và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam nói riêng. Thế và lực so sánh giữa ta và địch, cơ bản là ta đang ở thế thắng, thế thuận lợi, thế đi lên...; địch đang ở thế thua, thế khó khăn, thế đi xuống. Bộ Chính trị, QUTƯ nhận định đây là thời cơ để quân và dân ta đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, phát triển thế tiến công chiến lược mới trên toàn chiến trường miền Nam, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược bằng thương lượng trên thế thua.

Chủ động, theo dõi, nắm chắc thực tiễn, đánh giá đúng xu thế phát triển của tình hình, QUTƯ tham mưu cho Bộ Chính trị ra Nghị quyết về phương hướng tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Trong đó, chiến trường Tây Nguyên do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo về quân sự và tiếp tế hậu cần, được xác định là hướng tiến công phối hợp quan trọng, có nhiệm vụ: Giải phóng vùng Đăk Tô-Tân Cảnh, thị xã Kon Tum; khi có điều kiện phát triển xuống Pleiku, mở rộng vùng căn cứ Tây Gia Lai, Đắc Lắc, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh, nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ.

leftcenterrightdel
Lực lượng xe tăng của Mặt trận Tây Nguyên tham gia chiến dịch năm 1972. Ảnh tư liệu 

Tại Bắc Tây Nguyên, địch bố trí một lực lượng lớn, hình thành 3 cụm phòng ngự: Đăk Tô-Tân Cảnh, thị xã Kon Tum và Pleiku, hòng ngăn chặn sự tiến công của ta từ bên ngoài vào, đồng thời củng cố, giữ vững tuyến phòng thủ, dùng không quân đánh phá vùng giáp ranh, căn cứ hành lang vận chuyển, kho tàng, cơ quan của ta. Để tạo điều kiện cho hướng Bắc Tây Nguyên hoàn thành nhiệm vụ, ngay từ tháng 1-1972, bên cạnh việc huy động lực lượng tại chỗ, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân khu 5 bổ sung, tăng cường cho B3 các đơn vị chủ lực là Sư đoàn Bộ binh 320A, Sư đoàn Bộ binh 2 (Quân khu 5) và một số đơn vị binh chủng; đồng thời, được bảo đảm kịp thời số lượng lớn hàng hóa, khí tài quân sự. Như vậy, bước vào mùa khô năm 1972, bộ đội chủ lực Tây Nguyên đã có sự phát triển nhảy vọt cả về chất lượng và số lượng, đáp ứng tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô vừa và lớn.

Việc đánh giá chính xác tình hình, chủ động nắm bắt thời cơ, đưa ra những chỉ đạo chiến lược kịp thời, đúng đắn, sáng tạo của QUTƯ, Bộ Tổng Tư lệnh trong lãnh đạo, chỉ đạo hướng Bắc Tây Nguyên năm 1972 cần tiếp tục kế thừa, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đầy biến động như hiện nay. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, nhất là cơ quan tham mưu chiến lược phải tập trung nghiên cứu, dự kiến các tình huống về quốc phòng, an ninh có thể xảy ra và thống nhất cách thức, biện pháp giải quyết, để kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có đối sách xử lý thắng lợi, nhất là những tình huống đột xuất và ứng phó với âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, những tình huống an ninh phi truyền thống mới nảy sinh, không để bị động, bất ngờ. Để thực hiện tốt công tác này, phải đặc biệt quan tâm xây dựng các cơ quan tham mưu chiến lược và đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, tham mưu chiến lược có đủ bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, nhạy bén, nắm chắc và làm chủ tình hình, kịp thời tham mưu, đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ.

2. Chỉ đạo tổ chức chuẩn bị chu đáo, vận dụng sáng tạo nghệ thuật nghi binh tạo thế chiến dịch

Đầu năm 1972, QUTƯ họp bàn về nhiệm vụ quân sự và cuộc tiến công chiến lược năm 1972, xác định: Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là tập trung chỉ đạo chiến tranh và tăng cường lực lượng mọi mặt cho chiến trường, chủ yếu là chiến trường miền Nam. Cho đến lúc này, công tác chuẩn bị trên các chiến trường, mặt trận đã diễn ra hơn nửa năm. Nhằm thực hiện tốt quyết tâm chiến lược và bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ huy trên hướng Bắc Tây Nguyên, Bộ Chính trị và QUTƯ quyết định thành lập Bộ tư lệnh Chiến dịch, chỉ định đồng chí Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh. Nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cao cấp được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên. Ban Bí thư Trung ương Đảng cử đồng chí Trương Chí Cương (Tư Thuận)-Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó bí thư Khu ủy Khu 5 làm Chính ủy; Bộ Tổng Tư lệnh cử đồng chí Nguyễn Hòa làm Phó tư lệnh Chiến dịch, đồng thời chỉ đạo các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần cử nhiều cán bộ, phái viên vào công tác, giúp đỡ B3 mở chiến dịch.

Bộ Chính trị và QUTƯ chỉ đạo B3 cần lưu ý tập trung một số nhiệm vụ trọng yếu trong giai đoạn tới. Về kế hoạch tác chiến, phải đề ra được yêu cầu, chỉ tiêu cụ thể về tiêu diệt địch, bố trí lực lượng, dự kiến phát triển thắng lợi khi có thời cơ. Công tác chuẩn bị tiến công lớn phải tiến hành chu đáo, chắc thắng, chủ động trong mọi tình huống, kiên quyết giữ gìn lực lượng cho đến cao điểm. Công tác chuẩn bị tác chiến của lực lượng chủ lực cần tiếp tục huấn luyện nâng cao trình độ cho cơ quan, người chỉ huy về tác chiến hiệp đồng binh chủng, đồng thời theo dõi nắm chắc các thủ đoạn, vũ khí mới của địch để có các biện pháp tác chiến phù hợp.

Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các hướng chiến lược, các chiến trường trên toàn Miền tăng cường tổ chức hoạt động nghi binh lừa địch, căng kéo, thu hút làm cho địch không thể phán đoán được ý đồ tiến công chiến lược của ta. Trong đó, xác định chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên có vị trí rất quan trọng nhằm thu hút lực lượng địch, tạo bất ngờ cho hướng khác. Đánh Tây Nguyên là để tiêu diệt sinh lực địch và tạo điều kiện cho giải phóng đồng bằng Khu 5, không những buộc địch phải bỏ Tây Nguyên và khó chiếm lại được mà ta lại giành được nhân lực, vật lực lớn, đánh một đòn chí mạng vào kế hoạch "bình định" của địch, tạo nên khả năng mới để phát triển lực lượng. QUTƯ, Bộ Tổng tư lệnh nhất trí với dự kiến kế hoạch tiến công tiêu diệt lực lượng địch phòng ngự ở Tây Nguyên do Bộ tư lệnh Chiến dịch đề xuất, gồm hai giai đoạn: Nghi binh, tạo thế và tiến công tiêu diệt địch. Để tạo thế, nghi binh chiến dịch, QUTƯ chỉ đạo mở đường hướng Kon Tum qua sông Pô Kô, điều lực lượng tăng cường cho Tây Nguyên.

Chính sự phối hợp đồng bộ, tích cực và hiệu quả của hoạt động nghi binh đã góp phần làm cho địch phán đoán sai, ta có thể mở đợt hoạt động trên hướng Tây Nguyên, đánh phá “bình định” ở đồng bằng, nhất là khi quân địch chờ quân ta tiến công vào dịp Tết Nguyên đán Nhâm Tý năm 1972, nhưng Tết đã qua mà phía ta không có hoạt động gì lớn. Địch nhận định ta không có khả năng đánh lớn vào các tuyến phòng ngự vòng ngoài và đô thị đông dân nên mất cảnh giác, dẫn đến sai lầm nghiêm trọng, vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng phòng giữ thị xã Kon Tum, tạo thuận lợi cho ta phát huy tối đa ưu thế trên chiến trường Trị-Thiên.

Những chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật điều hành chiến tranh xuất sắc của Bộ Chính trị, QUTƯ, trong đó, nổi bật là nghệ thuật nghi binh tạo thế; nghệ thuật nắm vững quy luật chiến tranh, âm mưu, thủ đoạn và quy luật hoạt động của địch, nắm vững phương pháp chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, phát huy những chỗ mạnh cơ bản và khắc phục những chỗ yếu tạm thời của ta, khoét sâu chỗ yếu cơ bản của địch để giải quyết một cách sáng tạo những vấn đề chiến lược, chiến dịch, chiến thuật cần được nghiên cứu, vận dụng phát huy trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đặc biệt, trước những thời cơ và thách thức đan xen tác động tới việc xây dựng quân đội và củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, để quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, trong xây dựng và phát triển nền nghệ thuật quân sự Việt Nam, cùng với tổng kết nghệ thuật quân sự trong chiến tranh cách mạng và các cuộc chiến tranh xung đột vũ trang mới trên thế giới, cần coi trọng việc nghiên cứu những vấn đề lâu dài, vấn đề mới, dự báo những vấn đề tác động đến tình hình quốc phòng, an ninh, các hình thái chiến tranh mới, các tình huống chiến lược; chuẩn bị chu đáo cả về thế trận, lực lượng, phương án đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, phục vụ cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, giữ nước từ sớm, từ xa.

leftcenterrightdel
Trung đoàn 66, Mặt trận Tây Nguyên làm chủ căn cứ 42-Tân Cảnh (Kon Tum), tháng 4-1972. Ảnh tư liệu 

3. Chỉ đạo giữ vững quyền chủ động, phối hợp linh hoạt, chặt chẽ giữa các lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi quyết định

Sau hội nghị thông qua Kế hoạch cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Bộ Chính trị ngày 16-3-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư QUTƯ đã gửi thư tới các mặt trận thông báo về một số vấn đề quan trọng mới quyết định. Xác định đây là thời cơ mới, khả năng mới để có quyết tâm lớn, có cách đánh tốt, nhằm giành thắng lợi đến mức cao nhất, làm chuyển biến cục diện chiến tranh. Riêng B3 cần có sự chuẩn bị một cách chủ động để Sư đoàn 2 tác chiến ở Tây Nguyên, khi có thời cơ và điều kiện thì nhanh chóng thọc sâu xuống đồng bằng Khu 5, không đợi đến mùa thu. Như vậy, việc chuẩn bị ở B5 và B3 sẽ làm được tốt hơn; đồng thời, hai hướng tiến công ở B3 cũng không chênh lệch nhau quá nhiều về thời gian.

Ngày 23-3-1972, sau khi nghe QUTƯ báo cáo về tình hình địch, ta và công tác chuẩn bị trên các chiến trường, trước diễn biến phức tạp của tình hình mới, Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm không có gì thay đổi. Ngay lập tức, QUTƯ khẩn trương phổ biến Công điện của Bộ Chính trị gửi các chiến trường và chỉ đạo một số vấn đề chủ yếu. Cùng với việc phân tích rõ tình hình địch, QUTƯ đã lưu ý đối với B3, trong mùa mưa, khi ta tiến công mạnh, địch có thể co cụm lớn, dựa vào công sự vững chắc, hỏa lực, không quân và binh khí kỹ thuật làm ta mệt mỏi, khi thời cơ thuận lợi sẽ phản kích lại.

Vì vậy, B3 cần phải dự kiến hết các thủ đoạn đối phó quyết liệt của địch và có sự chuẩn bị để luôn giữ vững quyền chủ động, đánh bại địch ở mức cao nhất. Các cấp ủy và Bộ tư lệnh các chiến trường cần nghiên cứu kỹ những ý kiến của Bộ Chính trị để quán triệt trong chỉ đạo và có kế hoạch cụ thể thực hiện. QUTƯ sẽ chỉ thị cụ thể cho các chiến trường.

Ngày 30-3-1972, cùng thời điểm mở màn Chiến dịch Trị-Thiên, hướng Bắc Tây Nguyên đã đồng loạt đánh mạnh vào tuyến phòng thủ ngoại vi của địch trên dãy điểm cao tây sông Pô Kô, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch, cô lập địch ở Đăk Tô-Tân Cảnh. Ngày 24-4, một mũi tiến công của B3 tiến hành đột phá “cánh cửa thép” trên tuyến phòng thủ vững chắc của địch, tiêu diệt Sư đoàn 22 địch, giải phóng hai quận Đăk Tô và Tân Cảnh, mở ra thế trận thuận lợi để phát triển chiến dịch.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh gửi thư khen ngợi, động viên chiến thắng ban đầu của các lực lượng B3 và chỉ thị: Phải chú ý việc kịp thời nắm thời cơ, đưa lực lượng xuống Kon Tum, vì lúc này, đưa được một đại đội xuống cũng có giá trị như một trung đoàn. Trên đà thắng lợi, Bộ tư lệnh Chiến dịch quyết định tập trung lực lượng tiến công địch co cụm xung quanh thị xã Kon Tum, dồn địch vào trung tâm thị xã, đánh chiếm được một số vị trí quan trọng... giải phóng khu vực phía bắc tỉnh Kon Tum. Ngày 5-6-1972, Bộ tư lệnh quyết định chủ động kết thúc chiến dịch tiến công, rút về phía sau củng cố, chuyển sang hoạt động chống phá "bình định".

Thành công trong chỉ đạo giữ vững quyền chủ động, phối hợp linh hoạt, tạo sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi quyết định Chiến dịch Bắc Tây Nguyên cần vận dụng sáng tạo cho toàn quân trong thực hiện đồng bộ các giải pháp tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần quán triệt và thực hiện tốt quan điểm Đại hội lần thứ XIII của Đảng về xây dựng quân đội: Phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Đẩy mạnh thực hiện “ba đột phá” theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, tạo chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức biên chế; huấn luyện, đào tạo; chấp hành kỷ luật, pháp luật và cải cách hành chính quân sự. Coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, sức cơ động, khả năng tác chiến cho các đối tượng; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với luyện tập, diễn tập, huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, rèn luyện kỷ luật sát với nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn công tác và điều kiện thực tế của từng đơn vị.  

Chiến dịch Bắc Tây Nguyên diễn ra cách đây 50 năm, nhưng những kinh nghiệm quý về sự chỉ đạo chiến lược kịp thời, đúng đắn, sáng tạo của QUTƯ, Bộ Quốc phòng vẫn có giá trị về lý luận, thực tiễn và ngày càng nâng lên tầm cao mới. Những vấn đề đó cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để phát triển đường lối quân sự, chiến lược quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Thượng tướng, TS LÊ HUY VỊNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng