Những con số thống kê về thiệt hại không ngừng tăng lên trong khi mùa khô còn kéo dài. Dự báo, đợt hạn mặn lần này có thể sẽ gay gắt, khốc liệt hơn cả đợt hạn mặn lịch sử năm 2016. Trước diễn biến của HH&XNM ngày càng khốc liệt, vấn đề đặt ra là: Tìm cách ứng phó hay chủ động "sống chung” một cách sáng tạo với những bất thường, cực đoan của thời tiết để phát triển bền vững như từng “sống chung với lũ” từ nhiều năm trước?

Bài 1: Hạn, mặn không còn theo quy luật

Mới bước vào đầu mùa khô năm 2020 nhưng tình hình HH&XNM ở ĐBSCL đã diễn biến phức tạp. Tình trạng HH&XNM sâu, gay gắt hơn so với trung bình nhiều năm. Diễn biến hạn, mặn cũng ngày càng bất thường, không theo quy luật và rất khó dự báo. Theo dự báo, HH&XNM sẽ tác động đến 10/13 tỉnh, thành phố trong khu vực, với tổng cộng 74/137 đơn vị hành chính cấp huyện chịu ảnh hưởng.

Khát trên vùng sông nước

Những ngày tháng 2, về các tỉnh: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, hiện lên trước mắt chúng tôi là một màu vàng xỉn, bạc trắng của cánh đồng đang dần chết khô vì thiếu nước và hàng loạt kênh thủy lợi cạn trơ đáy. Nặng nhất là kênh Chống Mỹ, ấp 19, xã Phong Tân, thị xã Giá Rai (Bạc Liêu), vùng ngọt hóa cung cấp nước cho hàng trăm héc-ta lúa và hoa màu của xã. Ẩn hiện dưới cái nắng trên 30 độ C, dáng ông Nguyễn Văn Còn đen đúa, gầy còm, còng lưng chắt chiu chút nước còn sót lại dưới đáy kênh vốn đã nhiễm phèn để tưới cho đám ruộng ở giai đoạn 15-30 ngày tuổi bắt đầu chết dần, nhiều cây khô cháy vì không có nước, mặt ruộng khô cằn, nứt nẻ. “Không còn cách nào khác, lúa giai đoạn này rất cần nước mà giờ dưới kênh cạn hết rồi”, ông Còn bộc bạch.

leftcenterrightdel
Nhiều tuyến kênh ở huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng) cạn nước vì hạn hán.

Xuôi về Cà Mau, trên con đường đến xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, chúng tôi gặp ông Quách Vĩnh Phương ngồi thẫn thờ trước ngôi nhà sát bên ruộng dưa hấu đang héo úa vì thiếu nước. Khuôn mặt chữ điền hốc hác, da mặt sạm đen như những luống dưa nhiễm mặn chết khô ngoài đồng sau nhà khiến ông già hơn nhiều so với cái tuổi ngoài 50. Ông Phương cho biết: “Toàn ấp có hơn 100 hộ trồng màu, với hơn 100ha. Đây là nguồn thu nhập chính của các hộ dân, với lợi nhuận từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, 10 gia đình trồng dưa thì có đến 9 nhà bị mất mùa, với thiệt hại 30-60%, thậm chí có người mất trắng. Riêng nhà tôi có 1ha dưa hấu và gần 1,5ha dưa leo cũng bị thiệt hại nặng nề do không có nước tưới”.

Được mệnh danh là vùng sông nước, nhưng tại nhiều địa phương ở ĐBSCL, nông dân đang “khóc ròng” vì câu chuyện thiếu nước ngọt. Ông Nguyễn Thành Phước, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Sóc Trăng cho biết: “Tính đến thời điểm hiện nay, tổng diện tích lúa bị ảnh hưởng do HH&XNM là 3.081,2ha (tăng 702,2ha so với trước Tết Nguyên đán). Trong đó, 2.165ha bị ảnh hưởng dưới 30%, 689,4ha bị ảnh hưởng 30-70% và 226,8ha bị ảnh hưởng hơn 70% tập trung tại các huyện: Long Phú, Trần Đề, Kế Sách, Châu Thành và TP Sóc Trăng. Diện tích thiệt hại chủ yếu do thiếu nước ngọt tưới”.

Không chỉ cây lúa mà vấn đề đang đặt ra đối với toàn vùng ÐBSCL là tình trạng thiếu nước sinh hoạt đang có chiều hướng gia tăng. Báo cáo của các địa phương cho thấy, hiện có khoảng 82.000 hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt, tập trung tại các tỉnh: Bến Tre, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau và Tiền Giang. Nguyên nhân do nguồn nước có độ mặn vượt ngưỡng cho phép, các hộ dân thiếu dụng cụ trữ nước ngọt để sử dụng. Dự báo thời gian tới tiếp tục có khoảng 158.000 hộ thiếu nước sinh hoạt, trong đó 24.000 hộ ở vùng của công trình cấp nước tập trung; 134.000 hộ ở vùng cấp nước nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình. Tại các huyện: Bình Đại, Ba Tri (Bến Tre), dù có trữ nước lu và hết sức tiết kiệm nhưng cứ đến mùa khô, người dân nơi đây lại thấp thỏm vì không đủ nước sinh hoạt. Kênh, rạch cạn nước phải trông chờ trời mưa, thậm chí mua nước ngọt để sử dụng. “Sống ở vùng sông nước, vậy mà lại thiếu nước. Nói ra không ai tin, nhưng thực tế mỗi khi có đợt hạn, mặn là bà con xã này không có nước ngọt sinh hoạt. Trước đó, nhờ mấy chú bộ đội ở Vùng 2 Hải quân chở nước đến cho nên bà con cũng đỡ phần nào”, bà Nguyễn Thị Phấn, xã An Hòa Tây (Ba Tri, Bến Tre) chia sẻ.

Hạn, mặn diễn biến bất thường

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), nếu mùa khô năm 2015-2016 được xem là đợt hạn, mặn lịch sử trong vòng 100 năm qua thì đợt hạn, mặn năm nay được dự báo sẽ gay gắt và khốc liệt hơn. Ranh mặn 4‰ tại các cửa sông Vàm Cỏ, với phạm vi ảnh hưởng sâu 95-100km, sâu hơn trung bình nhiều năm lớn nhất 15-20km; ở sông Cửa Tiểu, Cửa Đại phạm vi sâu nhất khoảng 57km, cao hơn trung bình nhiều năm 17km; sông Hậu có phạm vi ảnh hưởng sâu khoảng 66km… Không chỉ phạm vi xâm nhập mặn (XNM) tăng cao, diễn biến phức tạp mà thời gian XNM còn xuất hiện sớm hơn trước đây từ 1 đến 1,5 tháng. Điển hình như tỉnh Bến Tre, nếu mọi năm vùng Chợ Lách được xem là an toàn bởi nước mặn ít xâm nhập thì năm nay, độ mặn 4‰, có nơi 6‰ đã xâm nhập sâu nhất đến thị trấn Chợ Lách (huyện Chợ Lách) trên sông Cổ Chiên, cách cửa sông khoảng 76km. TS Bùi Thanh Liêm, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Chợ Lách cho biết: “Chợ Lách là địa phương nằm xa biển nhất của tỉnh Bến Tre. Thế nhưng, hiện tại, nước mặn đã xâm nhập gần như toàn bộ huyện. Mặn xâm nhập trước Tết khoảng hai tháng, sớm hơn so với mọi năm nên một số hộ dân trở tay không kịp”.

leftcenterrightdel
Đồng lúa ở huyện Long Phú (Sóc Trăng) bị ảnh hưởng do hạn hán và xâm nhập mặn.

Tương tự nhiều năm gần đây, người dân Vĩnh Long luôn phải chống chọi với những diễn biến khôn lường của biến đổi khí hậu mà trực tiếp là HH&XNM. Hiện, trên sông Tích Thiện, huyện Trà Ôn ghi nhận độ mặn cao nhất đến 6,3‰; ở huyện Vũng Liêm ghi nhận độ mặn 5,8-10‰ ở các xã ven sông Cổ Chiên; tại xã Chánh An, huyện Mang Thít cũng ghi nhận độ mặn cao nhất khoảng 5,8‰.

Theo ông Nguyễn Văn Lợi, Phó giám đốc Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Vĩnh Long: Trong 38 năm qua, chưa có năm nào tỉnh chịu ảnh hưởng XNM như những ngày qua. Theo quy luật nhiều năm, Vĩnh Long bắt đầu xuất hiện mặn từ tháng 2 đến tháng 5, cao điểm độ mặn trong tháng 3, tháng 4. Tuy nhiên, những năm gần đây, quy luật này đã biến đổi. Độ mặn tại nhiều nơi vượt đỉnh mặn năm 2016 và kéo dài hơn 10 ngày với nồng độ cao hơn gấp đôi so với dự báo.

Đâu là nguyên nhân?

Phân tích về những nguyên nhân khiến HH&XNM ngày càng khốc liệt, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL nhận định, tình trạng hạn, mặn ở ĐBSCL có nguyên nhân chính là do hiện tượng El Nino diễn ra trên toàn lưu vực sông Mê Công từ đầu năm 2019, kéo dài đến khoảng tháng 9. Ông Thiện phân tích: “Trong nguyên lý về thủy văn thì mực nước sông Mê Công của mùa lũ năm trước và hạn mặn của mùa khô năm sau có mối quan hệ chặt chẽ. Thực tế chứng minh điều này là đúng khi năm 2015, đỉnh lũ cực thấp thì đến mùa khô năm 2016 hạn, mặn gay gắt. Đến mùa lũ năm 2019, mực nước thấp ở mức kỷ lục. Mực nước các trạm đầu nguồn Tân Châu và Châu Đốc hiện thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,36 đến 0,40m so với cùng thời kỳ. Lưu lượng tháng 11 và tháng 12 chỉ đạt khoảng 3499-4344m3/s. Lưu lượng bình quân tháng 2 có thể thấp hơn so với trung bình và năm 2016. Do đó, từ tháng 9-2019, các chuyên gia đã dự báo năm 2020 HH&XNM ở ĐBSCL sẽ diễn ra khốc liệt”.

Ở góc độ nhân tai, GS, TS Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cho rằng: “Tuy không có “Vạn lý trường thành”, nhưng ĐBSCL có “Vạn lý đường kênh” cho phép ém phèn để canh tác lúa, thau chua và rửa mặn. Tiếp đó, để sản xuất lúa vụ 3, đê bao vượt lũ đã được dựng lên, với tổng diện tích hơn 300.000ha, giúp tăng sản lượng lúa lên rất nhiều lần. Tuy nhiên, giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ giữ an ninh lương thực quốc gia là các vùng trũng bị “chắt” cạn nước để tăng vụ, làm giảm diện tích trữ ngọt, gia tăng XNM”.

Tương tự, theo PGS, TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH, Đại học Cần Thơ, ở ĐBSCL có hai vùng trữ nước lớn là tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười. Tuy nhiên, do xây dựng đê bao nên không gian trữ nước ở khu vực này giảm đi rất nhiều. Đây cũng là nguyên nhân khiến mùa khô trở nên khô hạn nặng nề hơn. “Trong lịch sử, có những năm nguồn nước sông Mê Công thấp nhất đổ về ĐBSCL khoảng 1.500m3/s. Nhưng, XNM lúc bấy giờ không quá 60-65km. Năm nay, mực nước sông Mê Công đổ về ĐBSCL thấp nhất 2.600m3/s nhưng mặn lên đến 70-75km. Điều này có nghĩa chúng ta đã mất không gian trữ nước ở vùng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười để đẩy nước mặn ra biển… Chúng ta vừa là nạn nhân và cũng vừa là "thủ phạm" của những thiệt hại do HH&XNM”, PGS, TS Lê Anh Tuấn nói.

Bằng những con số thống kê về thiệt hại đối với sản xuất và sinh hoạt của người dân, có thể thấy, tác động của biến đổi khí hậu mà cụ thể là HH&XNM đang xảy ra ngày càng nghiêm trọng ở vùng ÐBSCL. Chính vì thế, việc tìm ra giải pháp ứng phó lâu dài với tình trạng này đang là vấn đề cấp bách đặt ra với các cấp chính quyền và người dân nơi đây. Với tinh thần “coi nước mặn, nước lợ là tài nguyên”, thực tế đã có rất nhiều mô hình “thuận thiên” được người dân ĐBSCL áp dụng cho kết quả khả quan, có thể giúp họ dễ dàng “sống chung với hạn, mặn”.

Bài và ảnh: NGUYỄN BÁ - THÚY AN

(còn nữa)