QĐND - Trầm mặc trong không khí của những ngày 60 năm về trước, Đại tá Hoàng Đăng Vinh, người lưu danh sử sách với thành tích trực tiếp tham gia bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri, bùi ngùi: “Kỷ niệm riêng của tôi thì không có, nhưng kỷ niệm cùng đồng đội thì rất nhiều. Nếu các cậu muốn nghe, tôi sẽ kể”.

Ra quân trận đầu

Trước trận đánh đồi Him Lam ba, bốn ngày, đơn vị chúng tôi (Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312) được lệnh phòng ngự giữ giao thông hào và bảo vệ đơn vị đóng phía trong. Tôi nhớ, khoảng 8 giờ ngày 10-3-1954, chúng tôi mệt rũ người vì đào hào cả đêm. Đồng chí Thụ, trung đội trưởng bảo tôi: “Ai cũng mệt rồi, đồng chí Vinh chịu khó nhé. Đồng chí cảnh giới cho anh em ngủ một lúc. Có hiện tượng gì bất thường thì báo cho tôi ngay”.

Lúc đó, tôi buồn ngủ quá, chân đi lại liên tục, tay vã nước vào mặt nhưng hai mắt cứ díp lại. Bỗng tôi nghe thấy tiếng “cạch… cạch…. cạch”. Nghểnh đầu, dỏng tai, tôi cố phán đoán xem âm thanh gì. Lúc đó mắt tôi sáng lạ thường nhưng địa hình, địa vật quá hiểm trở, tiếng cạch… cạch… cạch mỗi lúc một gần. Tôi vội chạy đến chỗ đồng chí Thụ: “Báo cáo trung đội trưởng, tôi nghe thấy có tiếng cạch cạch rất lạ”. “Xe tăng địch chứ còn cái gì!”

Đại tá Hoàng Đăng Vinh xúc động khi nhớ về đồng đội ở Điện Biên Phủ.

Trung đội tôi lập tức triển khai đội hình chiến đấu ác liệt với một đại đội địch và 4 xe tăng. Trận chiến đấu diễn ra với nhiều diễn biến bất lợi cho ta. Tiểu đội 2 hy sinh hết, tôi chạy đến chỗ đồng chí Định - Trung đội phó để báo cáo tình hình thì thấy đồng chí bị một mảnh cối vào đầu, không biết gì nữa. Chạy đến vị trí đồng chí trung đội trưởng, tôi thấy đồng chí Thụ bị một mảnh đạn pháo trúng một bên mặt phía dưới hàm. Máu xối xả, đồng chí Thụ chỉ kịp lấy khăn mặt bịt vào vết thương. Thế nhưng, đồng chí Thụ vẫn rút sổ ra, ghi lại tình hình và lệnh cho tôi chạy đến các vị trí khác, truyền đạt mệnh lệnh và động viên anh em chiến đấu. Trận đó, đơn vị tôi chỉ còn 6 người. May mà 4 xe tăng địch không leo được lên đồi, chỉ ở bên dưới bắn lên, cây cối đổ ngổn ngang. Lúc đó, tôi còn là tân binh, ít kinh nghiệm quá, nên khi bắn hết đạn, quăng hết lựu đạn không biết đường lấy súng đạn của đồng đội đã hy sinh để chiến đấu tiếp. Tôi đang ở dưới hố cá nhân, chợt đồng chí Trí hô: “Vinh, bên trái có địch”. Tôi giật mình, cầm súng lao lên, đâm lưỡi lê thẳng vào bụng thằng địch chạy trước. Thằng chạy phía sau bất ngờ ngã dúi dụi xuống hào.

Sau trận đánh này, tôi được đề bạt tiểu đội phó và được tặng Huân chương Chiến công hạng ba. Lúc bình xét huân chương, tôi cố từ chối: “Em khuyết điểm! Thứ nhất, em buồn ngủ quá, suýt nữa thì không báo cáo kịp với trung đội! Thứ hai, em không linh hoạt trong chiến đấu, không biết cách lấy vũ khí của đồng đội để chiến đấu tiếp. Không có anh Trí thì em đã chết rồi. Em không nhận huân chương!”. Nhưng mọi người bảo, một tân binh chiến đấu như thế là giỏi lắm rồi.

"Trong chúng mình có máu đồng đội, có đất Điện Biên"

Cuối tháng 4, đầu tháng 5-1954, đơn vị tôi nhận lệnh đánh đồi C1 và C2. Hai quả đồi này nhiều đơn vị của ta đã đánh rồi. Nhưng ta chiếm được, địch lại phản công, cứ thế diễn ra cảnh ta chiếm, địch đánh chiếm lại.

Thời điểm đó, cả ta và địch đều đã rất mệt mỏi. Mệt vì không có cơm ăn, nước uống. Mệt vì thức trắng đêm đánh nhau. Mệt vì sốt ruột, lo âu, căng thẳng đánh mãi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Mệt đến mức, ta và địch cách nhau mấy chục mét nhưng chỉ nhòm nhau, thủ thế.

Bất chợt, hai anh nuôi vượt qua “bão đạn” mang đến cho cơm ăn và nước uống. Chao ôi, nhớ lại cảm giác thấy hai anh nuôi lúc đó, đến giờ, tôi vẫn gai người. Pháo địch bắn rất rát, chặn đồ tiếp tế từ tuyến sau đến đơn vị chiến đấu của ta nên việc hai anh nuôi mang được cơm nước đến tận chiến hào có thể coi là một kỳ tích.

Đầu tiên, hai anh nuôi đưa cho chúng tôi bi đông nước (bi đông nước đó giờ được trưng bày tại Bảo tàng Điện Biên). Tôi uống một ngụm nước. Úi giời! Chao ôi, sao mà ngon thế! Tôi cho rằng, không một loại nước nào ngon như ngụm nước hôm đấy. Ngon lắm! Sung sướng lắm! Rồi mỗi người nhận một nắm cơm gói trong lá chuối, kèm theo lạc rang. Lạc để nguyên hạt, rang với mỡ và muối. Cắn từng miếng cơm, nhón từng hạt lạc, lại có mùi mỡ, muối. Ai cũng mút tay. Càng mút tay càng thấy ngon. Chúng tôi ăn cơm và lạc, cảm nhận được cả máu và đất nơi đầu ngón tay. Gần ăn xong, đột nhiên một chiến sĩ kêu lên: “Này các cậu ơi, trông hai ngón tay mình này”. Hai đầu ngón tay đồng chí ấy trắng hồng. Ngoài hai đầu ngón tay ấy, nhìn sang đồng đội, chỗ nào cũng thấy máu và đất. Ngay lúc đó, một đồng chí bật nói: “Như thế trong người chúng mình có máu của đồng đội, có đất của Điện Biên”. Thử hỏi, có câu nói nào hay hơn? Câu nói trở thành nguồn động viên to lớn, khích lệ cả đơn vị ào lên chiến đấu. Khói lửa mù trời, đạn, pháo giăng khắp nơi. Tay tôi xiết cò mà lòng muốn hét to: “Máu của đồng đội, đất của Điện Biên!”

 “Mặc tôi, các đồng chí hãy tiến lên”

Gần đến thời khắc chiến thắng lịch sử, Chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn ác liệt lắm. Nhất là trận đánh trên đồi 507. Đêm 6-5, hai đại đội 363, 366 gần như hết quân. Đại đội 366 chỉ còn 10 người. Đại đội tôi cũng mất 1/3 quân số. Tiểu đội tôi hy sinh 6 đồng chí, còn 4 người. Hai giờ chiều 7-5, đơn vị tôi được lệnh tiếp tục tấn công đồi 507. Lúc này, tinh thần địch đã rệu rã, hoang mang lắm rồi. Hàng rào dây thép gai và bãi mìn bao vây 507 cũng đã được pháo địch lẫn pháo ta dọn sạch. Sau khi pháo ta dồn dập bắn vào 507, chúng ta ào lên xung phong.

Lúc đó, tôi là tiểu đội trưởng, dẫn một mũi xung phong đánh thẳng vào hướng chính giữa. Tôi vừa bắn vừa ném lựu đạn lia lịa. Lựu đạn địch nhiều, ta cứ nhặt ném. Địch dạt ra, nhiều thằng vội chui vào hầm. Sau khi chiếm được đồi 507, các đơn vị được lệnh tấn công vượt qua cầu Mường Thanh. Gần đến giờ chiến thắng, đồng đội nhiều người vẫn ngã xuống. Một đồng chí bị thương toàn thân, hai chân nát bét nhưng vẫn cố sức bò dưới giao thông hào. Tôi và đồng chí Nhỏ dừng lại băng bó thì đồng chí đó gạt phắt tay ra, hét: “Đằng nào tôi cũng hy sinh rồi. Mặc tôi, các đồng chí hãy tiến lên”. Thấy chúng tôi nhùng nhằng, đồng chí quát: “Đằng nào tao cũng chết rồi, chúng mày tiến lên”. Nước mắt chúng tôi trào ra. Băng bó cho đồng đội xong, tôi và đồng chí Nhỏ lau nước mắt, tiếp tục xông vào đội hình địch.

Sau này nhiều người hỏi tôi, các đồng chí dũng cảm thế, không sợ à? Sợ chứ, không ai là không sợ nhưng chúng tôi sẵn sàng hy sinh để giành lấy chiến thắng.

Sau khi ta vượt cầu Mường Thanh, diệt khẩu đại liên bốn nòng và một vài xe tăng địch, bọn địch chạy đi đâu hết bặt. Chúng tôi áp sát hầm Đờ Cát-xtơ-ri. Gọi mãi địch chẳng ra, ném lựu đạn vào cũng không thấy gì. Tôi bảo: “Anh Nhỏ, ném thủ pháo đi! Anh ném bên ngoài thôi, để bắt sống mới sướng”. Sau khi đồng chí Nhỏ ném một quả thủ pháo vào cửa hầm, một tên quan 3 vẫy khăn trắng đi ra, nói: “Xin mời sĩ quan Việt Minh vào để toàn Bộ chỉ huy quân Pháp ở Điện Biên Phủ đầu hàng”. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật hô to: “Đồng chí Nam, đồng chí Hiếu bịt cửa hầm bên kia. Đồng chí Vinh, đồng chí Nhỏ vào bắt chỉ huy địch đầu hàng…”

Bài và ảnh: ĐÌNH HÙNG