Trong một chuyến đi công tác, ngồi trên xe ô tô có Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, nguyên Bí thư Đảng ủy, phó chủ nhiệm về chính trị Tổng cục Kỹ thuật cùng tôi và đồng chí lái xe. Tôi gợi chuyện anh Tuấn: "Nghe nói anh có nhiều kỷ niệm Trường Sơn lắm?". Anh bảo: "Kỷ niệm thì nhiều, nhưng hẹn anh vào hôm khác, để có đầu có cuối". Tôi lại khẩn khoản đề nghị và rồi như hiểu được "máu nghề nghiệp" của tôi, anh đã thay đổi ý kiến. Thế là câu chuyện của anh cứ cuốn hút tôi, như làm cho con đường ngắn lại.

Người "mũi tẹt"

Hồi đầu vào chiến trường, ở đoàn 559, anh Hoàng Anh Tuấn ở cùng đơn vị với anh Trần Văn Khâm, quê ở khu Đông Hội An, tỉnh Quảng Nam. Anh Khâm lấy vợ ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, đã từng lập nhiều chiến công xuất sắc trên tuyến vận chuyển đường Hồ Chí Minh lịch sử, vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. "Thời kỳ đầu anh Khâm làm tiểu đội trưởng, tôi là tiểu đội phó; khi anh Khâm được cấp trên bổ nhiệm làm đại đội trưởng, thì tôi là cán bộ trung đội; anh Khâm được bổ nhiệm làm cán bộ tiểu đoàn, thì tôi làm cán bộ đại đội. Ở với anh Khâm tôi ảnh hưởng tính cách của anh ngay từ những ngày đầu gặp nhau, nghĩa là từ lúc tôi làm phụ xe cho anh. Ở với một người như thế, tôi học tập, trưởng thành nhiều". Anh Tuấn kể về người anh hùng trong niềm trân trọng và xúc động.

Khi đại đội một do anh Hoàng Anh Tuấn phụ trách vinh dự được cấp trên tặng cờ "Ba nhất xuất sắc" của Bác Hồ, thì ở miền Bắc đang sôi nổi các phong trào: "Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Cờ Ba Nhất". Toàn quân chỉ có hai đơn vị được tặng cờ "Ba nhất xuất sắc", tự hào lắm.

Năm 1972, chủ trương của trên mở chiến dịch lớn, anh Hoàng Anh Tuấn được điều về Cục chính trị đoàn 559 làm trợ lý tổng hợp của phòng tổ chức. Chiến dịch mở, đồng chí Lê Si, phó chính ủy đoàn 559 là người trực tiếp chỉ đạo Mặt trận Quảng Trị "kéo" anh Tuấn đi cùng. "Vốn là lính vận tải đường bộ nhưng cấp trên giao cho tôi nhiệm vụ trinh sát đường thủy trên tuyến vận chuyển từ Cồn Tiên đi Cam Lộ. Đây là con đường được ngụy quyền Sài Gòn gọi là đường "Bắc tiến". Nghe anh Tuấn nói thế, tôi hỏi:

- Lính bộ với lính thủy khác nhau, sao lại giao cho anh trinh sát đường thủy?

- Chắc cấp trên tin tưởng tôi.

- Vận tải đường thủy có phức tạp lắm không?

- Đường nào cũng phức tạp. Đường bộ thì máy bay địch thả bom, vãi đạn, đường thủy thì chúng thả thủy lôi. Tất nhiên vận chuyển đường thủy đỡ vất vả hơn đường bộ.

Như anh kể thì đỡ vất vả thật, nhưng phải đối mặt với bao hiểm nguy. Có lần thuyền của các anh theo dòng sông Vĩnh Linh đến bến Ngự thì bị tắc vì cát bồi. Hỏi những người dân xung quanh mới biết, trước đây nhà Vua đi kinh lý khu vực này, dừng ở đó, dân địa phương liền đặt là bến Ngự. Vì lẽ đó, đơn vị phải bố trí một đại đội thanh niên xung phong nạo vét lòng sông cho thuyền vận tải 5 tấn đi qua, nhưng phải chờ khi nước thủy triều lên mới qua được.

Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn (đứng giữa) cùng các CCB lái xe thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước.

Hồi đó ở Quảng Trị, máy bay địch đánh phá rất ác liệt. Đêm đến máy bay B52 đánh bom rải thảm, hòng chiếm Thành Cổ. Không được, chúng phong tỏa thủy lôi trên sông Thạch Hãn. Để phá thủy lôi, đơn vị của anh Tuấn được trang bị hai máy phóng từ, lắp trên hai chiếc thuyền. Máy phóng từ làm việc liên tục, không được bao lâu thì máy hỏng. Có lần, anh cùng một số anh em đi trên chiếc thuyền có gắn máy phóng từ, biết là không an toàn, nhưng vì nhiệm vụ, cứ đi, phóng với tốc độ rất nhanh. Mỗi lần đi, cả đơn vị coi như vào "trận đánh" mới, nhưng không ai chần chừ do dự, tất cả đều hướng ra phía trước, phục vụ trận đánh thắng lợi. Lần khác, vào khoảng 17 giờ chiều địch thả thủy lôi, các chốt gác dọc sông không báo kịp. Khi thấy thuyền vận chuyển đạn cho chiến trường đi qua, anh em bắn đạn lửa qua sông báo phía trước nguy hiểm. Nghe tiếng súng AK, đoán không phải súng địch, cả tổ cho thuyền phóng trên sông. Nào ngờ đi được chừng cây số, thủy lôi nổ, hất mọi người lên bờ.

- Trên thuyền có mấy người? Tôi hỏi.

Lời anh Tuấn lặng đi:

- Thuyền có 5 anh em. Hai người văng lên bờ, được nhân dân địa phương đưa đi cấp cứu, hai đồng đội hy sinh… Còn tôi văng vào bãi cát, giập cả sống mũi, về đơn vị điều trị một thời gian, thế là tôi mang cái "mũi tẹt" từ ngày ấy.

Tình yêu nơi đất lửa

- Nghe nói chuyện tình duyên của anh cũng lãng mạn lắm?

- Chuyện gia đình thì dài lắm, năm 1968, khi còn ở đơn vị ô tô vận tải, tôi mới 24 tuổi, là chính trị viên đại đội. Đại đội nhiều người hơn tuổi tôi, có đồng chí lái xe, quê ở Hải Phòng, đã gần 40 tuổi, có con gái 18 tuổi. Một lần anh nói với tôi: "Chính trị viên à, sau này giải phóng miền Nam, về Hải Phòng, tôi gả con gái cho". Mặc dù anh hơn tôi hàng chục tuổi, là hạ sĩ lái xe, nhưng trong cuộc sống thì tình cảm lắm, coi nhau như anh em trong một gia đình.

- Thế có phải chị nhà bây giờ là…?

- Ồ, không phải. Hồi ấy tôi làm chính trị viên đại đội, "say" hoạt động công tác quần chúng, được anh em tín nhiệm bầu là bí thư chi đoàn. Cuối năm 1968, tôi vinh dự được đi báo cáo điển hình tại Đại hội thi đua Quyết thắng đoàn 559, ở khu vực K1, gần ngã ba Sê Pôn-Tà Khống. Trước khi đi, tôi lên Bộ Tư lệnh đoàn 559, để anh Hoàng Bá Thị, anh Trọng Khoát bồi dưỡng viết báo cáo điển hình thì gặp cô Cử, tức vợ tôi bây giờ, làm y tá ở Cục chính trị đoàn 559.

- Chị Cử vào chiến trường năm nào?

- Nhà tôi học y sĩ khóa 17 Trường trung cấp y tỉnh Phú Thọ. Học xong do yêu cầu của chiến trường, tháng 12 năm 1967 nhập ngũ vào quân đội.

Hồi ấy lẽ ra chị Cử được biên chế về Viện quân y 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108). Nhưng trước yêu cầu chi viện cho chiến trường, chuẩn bị cho Tết Mậu Thân 1968, thế là chị Cử xung phong đi ngay, rồi được biên chế về làm y sĩ ở Cục chính trị đoàn 559.

- Tình yêu trong hoàn cảnh ấy chắc là rất đặc biệt?

- Nhiều tình tiết lắm-Anh Tuấn cười-Tôi là chính trị viên đại đội xe "Lá cờ đầu". Chỗ nào máy bay địch đánh phá ác liệt nhất là đại đội tôi có mặt. Khi đó lái xe rất vất vả, nguy hiểm, dễ hy sinh, vì hằng ngày phải vận chuyển đạn dược qua các "tọa độ lửa", trọng điểm đánh phá ác liệt của địch. Đã có người khuyên cô Cử: "Lấy lái xe làm gì, dễ chết lắm, thôi quách đi cho xong". Nhưng chẳng hiểu sao Cử vẫn yêu tôi biết thế không ai "gàn" nữa mà đều ủng hộ, vun vén cho chúng tôi. Lại được cơ quan chính trị "ưu tiên" đơn vị "Lá cờ đầu", thế là tình yêu của chúng tôi cứ thế mà "phát triển" ở Trường Sơn.

- Anh chị cưới nhau khi nào?

- Mãi đến năm 1970, tôi bàn với Cử việc tổ chức. Lúc đó có người khuyên cô ấy: "Mày đang phấn đấu trở thành đảng viên lớp Hồ Chí Minh, lấy chồng thì còn phấn đấu gì nữa". Nhưng hai chúng tôi quyết tâm lắm, định xin đơn vị cho về cưới ở quê, vì là phong tục… Nhưng các anh lớn tuổi trong đơn vị thì khuyên: "Chúng mày chưa vợ chưa chồng, yêu nhau chúng tao ủng hộ, nhưng nên tổ chức cưới ở đây, về quê đăng ký, mười ngày sau mới được tổ chức, nó trục trặc ra". Lời khuyên chân tình ấy đã giúp hai chúng tôi quyết định tổ chức ngay ở chiến trường, trên đất lửa Quảng Bình.

- Tổ chức ở chiến trường chắc là…?

- Đám cưới của chúng tôi diễn ra ngay ở hậu cứ Bộ Tư lệnh đoàn 559, tại thôn Cổ Giang, xã Hương Trạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Hồi ấy tôi "chốt" ở đường 20, Binh trạm 14, nơi có tuyến đường mà cánh lái xe mệnh danh là "Đường 20 quyết thắng" hàng ngày máy bay địch đánh phá rất ác liệt. Còn vợ tôi thì ở ki-lô-mét 3-đường 18 (cách nhau hơn 100 ki-lô-mét).

- Anh chị có chọn ngày không?

- Có đấy, nhưng không phải chọn "ngày tốt" như các cụ vẫn tính, mà lựa ngày thuận cho cả hai chúng tôi và đơn vị. Đó là ngày 29 tháng 7 năm 1970.

Chiều 28 tháng 7 năm 1970, biết anh Tuấn và chị Cử tổ chức tại hậu cứ, các chi đoàn cử đại biểu tập trung lên hai chiếc xe Zin 57 đi từ biên giới Việt-Lào ra hậu cứ, cách đơn vị chừng 50 ki-lô-mét. Khi đi họ mang theo cả nồi quân dụng để nấu cơm ăn khi đi trên đường. Ra đến nơi chờ mãi không thấy chị Cử đến. Mọi người ái ngại, còn anh Tuấn thì rất lo, đứng ngồi không yên. Mãi chiều 29 tháng 7, chị Cử mới xuất hiện trên chiếc Gát 69 "đít vuông". Nhìn thấy chị Cử xuống xe, anh Tuấn mừng đến nghẹn ngào. Thì ra hôm trước chị Cử còn phải làm nhiệm vụ trên mặt đường 10!

Đám cưới của họ không linh đình nhưng rất vui, đồng chí đồng đội, người tặng tút thuốc lá Tam Đảo, người tặng gói kẹo Hải Châu, lại có người tặng chè Hồng Đào, Thanh Hương, lương khô v.v.. Nghĩa là ở chiến trường, có thứ gì, anh em đều mang đến tặng, chúc mừng cho ngày hạnh phúc của anh chị.

Đặc biệt hơn, đám cưới tổ chức trong "nhà thùng" nửa nổi, nửa chìm. Đang tổ chức thì thấy anh Hà Dư (sau này là Cục trưởng Cục hậu cần đoàn 559) tất tưởi gánh đến hai bao tải. Chú rể chạy ra đỡ cho anh vẻ ngỡ ngàng lắm. Anh Hà Dư liền bảo: "Bánh quy chúng nó làm để mừng hạnh phúc hai vợ chồng mày đấy". Hai anh em ôm nhau cười, rồi nước mắt rưng rưng.

Cưới xong, anh Tuấn trở lại đơn vị tiếp tục công tác, còn chị Cử sau mấy tháng phấn đấu, vinh dự được kết nạp vào Đảng, lớp đảng viên Hồ Chí Minh thời đó. Với họ, đúng là "Vui duyên mới không quên nhiệm vụ".

Bài và ảnh: VĂN HƯỚNG