LTS: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hầu hết phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã ra mặt trận. Bài này chỉ viết về đợt phóng viên ra trận đầu mùa xuân năm 1975.

Đón trước thời cơ chiến dịch

Tin chiến thắng Phước Long làm Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân sôi động hẳn lên. Từ Đảng ủy, Ban biên tập đến các phòng, ban hằng ngày họp bàn về nhiệm vụ quân sự năm 1975 và chuẩn bị cử phóng viên ra trận.

Một hôm, anh Vũ Quế, Trưởng phòng biên tập Công tác Đảng, Công tác chính trị rủ tôi đi uống cà phê ở một tiệm đầu phố Hàng Mã (Hà Nội). Anh thân mật nói: "Tòa soạn sẽ cử nhiều nhóm phóng viên đi các chiến trường khu 6, Nam Bộ, Khu 5... Và sẽ có một nhóm phóng viên đi cùng với Tổng biên tập vào nghiên cứu lấy tài liệu về chiến thắng Phước Long và các vùng chiến sự mới xuất hiện trong mùa xuân 1975. Cậu đã quen đường giao liên Trường Sơn lại vừa ở Nam Bộ ra, đáng lẽ chưa giao nhiệm vụ ngay, nhưng vì nhóm này đi xe ô tô quân sự của Tổng cục Chính trị, không sử dụng ô tô của giao liên cơ giới Đoàn 559, nên cần có người quen đường, quen chiến trường... Vì vậy, Tòa soạn quyết định cậu đi cùng anh Ước và Khánh Vân vượt Trường Sơn vào Nam Bộ. Sẽ có một y sĩ, một công vụ đi theo giúp đỡ nhóm. Cậu có ý kiến gì không? Tôi không có ý kiến gì khác, chấp nhận sự phân công, sau đó về nhà làm mọi việc chuẩn bị để lên đường.

Phóng viên Trần Ngọc (bên phải) và Khánh Vân đứng trước cổng Bộ tư lệnh quân ngụy Sài Gòn tại Buôn Ma Thuột (tháng 3-1975).

Ngày 16-2-1975, chiếc ô tô U-oát mang biển quân sự số FB4461 chở sáu người: Anh Nguyễn Đình Ước (Tổng biên tập), Khánh Vân (phóng viên), Cao Đức Nhương (y sĩ), Lương Văn Đáo (lái xe), Bùi Văn Ru (bảo vệ) và tôi (phóng viên) xuất phát từ tòa soạn ở số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội. Theo phân công của anh Ước, tôi được giữ các giấy hành quân của đoàn, có nhiệm vụ liên hệ với các trạm giao liên để nắm vững các chặng đường xe đi. Đêm hôm đó, đoàn nghỉ ở trạm giao liên Vinh; đêm hôm sau, nghỉ ở Đồng Hới. Ngày 18-2-1975, đoàn qua cầu Hiền Lương đến căn cứ của Đoàn 559 ở Cam Lộ. Nhà khách A là mấy ngôi nhà sàn gỗ quý được xây dựng rất đẹp ở bờ nam sông Bến Hải có phòng ngủ, phòng tắm, phòng vệ sinh như những khách sạn nhỏ. Hằng ngày, cán bộ có xe buýt Robur đón đi làm. Ban đêm các con đường trong khu vực đều có hệ thống đèn đường chiếu sáng, trông như một thị tứ.

Sáng 19-2-1975, đồng chí Si - Phó Tư lệnh Đoàn 559 làm việc với đoàn. Anh Si cho biết nhiệm vụ Đoàn 559 nặng nề và khẩn trương hơn, vì năm 1975 các chiến trường đều đẩy mạnh hoạt động quân sự. Nhiệm vụ vận tải chiến lược kéo dài, nhưng có lúc phải thực hiện nhiệm vụ vận tải chiến dịch cho các quân khu. Điểm mới năm nay là phải kết hợp vận tải trên cả hai tuyến đông và tây Trường Sơn. Để thực hiện nhiệm vụ, Đoàn 559 mở chiến dịch vận chuyển cả đường bộ và đường sông. Đường ống xăng dầu đã đặt đến Bù Gia Mập, đang chuẩn bị bơm xăng dầu vào trong đó. Đường bộ ở hướng tây cũng đang được nắn lại để xe không phải chạy qua Đèo Long, ngầm Bạc, đèo Yên Ngựa, ngầm E, mà xe sẽ chạy vòng sang đường 24, qua ngã ba Tha Teng, Xa-ra-van...

Nghe anh Si giới thiệu nhiệm vụ của Đoàn 559, chúng tôi phần nào hình dung được nhiệm vụ quân sự trên các chiến trường miền Nam năm 1975.

Ngay trưa hôm đó, chiếc xe U-oát đưa chúng tôi rời Cam Lộ, theo đường 9 đến T.2 giao liên ở Khe Sanh. Và đêm ngủ tại đó.

Ngày 20-2-1975, chúng tôi đi từ trạm Khe Sanh đến trạm phía bắc sông Xê La Nông, dài 84km.Tới ngã ba Bản Đông rẽ vào đường 22, qua cầu Bản Đông bắc qua sông Sê Pôn. Đoạn đường này có rất nhiều chim cu gáy và gà rừng đi kiếm ăn trên đường xe tuyến. Vừa đến trạm, đã thấy đồng chí Đinh Đức Thiện ở đó. Đồng chí Trữ, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn giao liên cho biết: Đây là trạm "đặc biệt", có lần ngài Xi-ha-núc đi về vùng giải phóng Cam-pu-chia đã dừng nghỉ tại đây.

Xe ô tô u-oát mang biển số FB 4461 của phóng viên Báo Quân đội nhân dân đến một căn cứ địch vừa bị ta đánh chiếm ở Tây Nguyên. (ảnh chụp tháng 3-1975).

Ngày 21-2, chúng tôi đi đến T.13, qua Phu-la-tuya, đèo Ca-nốt (ở đây có trạm lĩnh xăng). Đường xóc và bụi đỏ quạch nhuộm cây lá hai bên một màu nâu đỏ. Trời nắng, ai cũng thấy ngột ngạt, khó thở. Anh Ước bị nôn, không ăn được nên y sĩ Nhương phải mắc võng cho anh nghỉ ở dọc đường, mãi đến chiều mới tiếp tục đi đến trạm được. Sau một đêm nghỉ, sức khỏe có phần hồi phục nên ngày 22-2-1975, mọi người lên xe đi tiếp. Đoạn đường đến T.14 ở phía bắc Xê Nọi dài 128km, qua cung đoạn của đường 24 (45km), đường 22 (40km), đường 16 (43km) và đi men theo sông Bạc, qua ngầm Lăn Phăn. Đồng chí Lương Văn Đáo, lái xe của chúng tôi vừa trẻ, khỏe, lại vừa có tay lái vững nên vượt qua mọi dốc núi và ngầm sông trên đường Trường Sơn đều suôn sẻ, an toàn.

Ngày 23-2-1975, trước khi chúng tôi sang T.15, anh Hữu (trạm phó T.14) căn dặn lái xe: "Hôm nay là ngày cuối cùng xe chạy ban ngày. Phải đi cẩn thận, không được chủ quan khi qua cầu Xê Nọi, cầu X7, cầu Xê-ca-máng. Nhớ lấy xăng ở H6, T.15. Từ ngày mai xe phải chạy ban đêm, trời tối, khó quan sát, đường lại khó đi, lái xe càng phải cẩn thận hơn. Xe phải ngụy trang kỹ và chỉ được sử dụng đèn rùa dưới gầm xe”.

Theo lời dặn của anh Hữu, chiều 24-2-1975, trước khi hành quân từ T.15 đến T.7 (thuộc tiểu đoàn 16 giao liên cơ giới), tôi gặp cán bộ trạm hỏi tỉ mỉ và vẽ sơ đồ đường đi vào cuốn sổ nhỏ để đối chiếu với thực địa. Nhờ sơ đồ này mà xe chúng tôi đến Xê Xụ, qua sông và vượt 3 đèo cao để qua biên giới Cam-pu-chia an toàn. Đèo đầu tiên dài khoảng 1,5km, đường đất đỏ. Đèo thứ hai, từ biên giới Cam-pu-chia sang biên giới Việt Nam nhiều cua gấp, đường hẹp. Khó đi nhất là đèo thứ ba, có tên gọi là đèo Ăm-pun vì nhiều đoạn đường lượn vòng tròn như rãnh của đui bóng đèn, bên dốc cao lại có vực sâu, rất nguy hiểm, đã từng có xe rơi xuống vực. Những ngày trước đây, ban đêm máy bay C130 của địch thường dùng đạn 40mm hoặc 20mm bắn xăm để dò tìm mục tiêu; ban ngày thì máy bay A37, hoặc B57 ném bom tọa độ. Nhờ có kinh nghiệm hành quân đêm 24-2-1975, những đêm sau xe chúng tôi chạy dễ dàng hơn. Từ T.7, xe chúng tôi qua sông Sa Thầy, sông Pô Cô, Suối Đôi, đi theo đường 19 một đoạn rồi rẽ phải qua suối I-a-đơ-răng để đến T.8. Từ T.8, xe chúng tôi qua ngầm I-a-súp, ngầm I Mơ, sông Xê-rê-pốc đến T.9. Từ T.9, xe lại tiếp tục qua suối Đắc No, ngã ba đường đi Đức Lập, đến suối Đắc Đam. Đây là khu vực cơ quan Bộ tư lệnh Tây Nguyên trú quân. Xe dừng lại. Anh Ước vào chuyển thư của gia đình cho anh Vũ Lăng. Nhân dịp này, chúng tôi cũng gặp được anh Lê Ngọc Hiền và anh Hiệp. Sau đó lên đường qua Đắc Rét, Đắc Bo, Suối Vắt đến T.10. Ngày 28-2-1975, chúng tôi đến La-ba-khê và ngày 1-3-1975, đã có mặt tại căn cứ R ở vùng Lộc Ninh.

Khi được tin nhóm phóng viên đi theo đường giao liên vào miền Đông Nam bộ đã đến Cục Chính trị Miền (trong đó có các anh Cao Tiến Lê, Tô Vân, Thiều Quang Biên...), chúng tôi liền tìm đến gặp. Các anh cho biết nhóm phóng viên đi Khu 5, Khu 6 trong đó có các anh Hà Đình Cẩn, Anh Ngọc... cũng đã rẽ sang nhánh giao liên khác từ khi đang đi trên đường.

Như vậy là các nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân được cử ra trận vào đầu năm 1975 đã có mặt ở các chiến trường xa. Trong khi đó, ở Tòa soạn, các phóng viên khác cũng đã sẵn sàng lên đường khi cuộc tiến công và nổi dậy ở miền Nam bắt đầu.

Sẵn sàng bước ngay vào cuộc chiến

Sau khi làm việc với các anh trong Bộ chỉ huy quân sự Miền, anh Ước thấy tình hình rất khẩn trương liền cùng chúng tôi bắt tay vào việc ngay. Theo phân công, Khánh Vân đến núi Bà Đen (hướng Tây Ninh) lấy tài liệu, còn tôi (có anh Ước đi cùng) đến vùng núi Bà Rá và các căn cứ địch để viết về cuộc chiến đấu giải phóng Phước Long. Trước khi đi, chúng tôi làm việc với anh Tư Nguyện, Bí thư Tỉnh ủy; anh Tư Thân, Phó chỉ huy quân sự tỉnh về tình hình sau giải phóng và đến nơi giam giữ tù binh bị bắt ở Phước Long để hỏi và nghe họ kể lại diễn biến cuộc chiến đấu mà họ chứng kiến. Tôi chọn 8 tù binh cấp bậc, chức vụ và các đơn vị khác nhau. Đó là: Phạm Thăng Chức, phó tỉnh trưởng tỉnh Phước Long; Nguyễn Hữu Pháp, trung tá, phó tham mưu trưởng Tiểu khu Phước Long; Ninh Huy Tôn, tiểu đoàn trưởng D341 địa phương quân; Đặng Vũ Khoái, thiếu tá, quận trưởng kiêm chi khu trưởng Đồng Xoài; Đặng Thiện Chơn, phân chi khu Phước Bình; Trần Nguyên, thiếu úy, liên đoàn biệt kích dù; Đỗ Hồng Điệp, sĩ quan không trợ Phước Long; Nguyễn Phước An, chuẩn úy, an ninh quân đội, chi khu Đồng Xoài.

Nguyễn Hữu Pháp là người có mặt ở sở chỉ huy Tiểu khu Phước Long từ ngày Quân giải phóng bắt đầu tiến công cho đến khi giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Ngày 13-12-1974, ta tiêu diệt chi khu Bù Đăng (trên đường 14); ngày 15-12-1974, diệt tiểu đoàn bảo an ngụy, giải phóng yếu khu Bù Na. Ngày 26-12-1974, ta tiêu diệt chi khu Đồng Xoài, giải phóng quận lỵ, bắt sống tên Vũ Khoái quận trưởng kiêm chi khu trưởng. Sáng 31-12-1974, ta diệt chi khu Phước Bình cách thị xã Phước Long 5km, đánh chiếm sân bay (vẫn còn 2 máy bay ở đó) và diệt các chốt địch ở quanh thị xã Phước Long. Ngay hôm sau 1-1-1975, một phân đội Quân giải phóng luồn sâu đánh chiếm núi Bà Rá, chọc thủng "con mắt Phước Long", hình thành thế trận bao vây thị xã. Trong các ngày từ 2-1-1975 đến 6-1-1975, các mũi tiến công của Quân giải phóng, có xe tăng phối hợp đánh chiếm tiểu khu quân sự và thị xã Phước Long. Để cứu nguy, địch cho máy bay F5E và A37 tới ném bom, cử các đại đội biệt kích dù thuộc lữ đoàn 81 đổ xuống tăng cường. Trung tá Thông, chỉ huy lữ dù hốt hoảng thốt lên: "Cứu làm sao được. Thất thủ rồi!". Thế là địch bỏ cả công sự, xe, pháo, mạnh ai nấy chạy. Ngay tại sở chỉ huy tiểu khu, sĩ quan và lính ngụy cũng tự ý bỏ chạy. Nguyễn Thống Thành, đại tá, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng không cản được, cũng phải bỏ chạy cùng với phó tỉnh trưởng và các sĩ quan cận vệ xuống bờ sông Bé. Thành bị chết trên đường rút chạy, còn phó tỉnh trưởng Phạm Thăng Chức, phó tham mưu trưởng tiểu khu Nguyễn Hữu Pháp và nhiều tên khác bị bắt sống.

Sau khi đi thị sát thị xã Phước Long, Bù Na, Bù Đăng, Đồng Xoài, Phước Bình, anh Ước và tôi trở về Lộc Ninh. Khánh Vân đi phía núi Bà Đen cũng vừa về. Cả nhóm chúng tôi ai cũng nóng lòng, sốt ruột vì cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã bắt đầu từ giải phóng Buôn Ma Thuột ở Tây Nguyên. Anh Ước quyết định: "Phải ra ngay Tây Nguyên". Thế là, chiếc xe U-oát mang biển số quân sự FB4461, lại từ cơ quan quân sự miền Nam ra T10 giao liên cơ giới. Từ đây, xe chúng tôi rẽ vào con đường quân sự làm gấp, để ra đường 14, đi Buôn Ma Thuột, Plây-ku, Kon Tum vừa mới được giải phóng. Từ Tây Nguyên, chúng tôi lại theo đường 19 xuống đường số 1, vào Quy Nhơn còn ngổn ngang dấu vết chiến tranh rồi ra Huế, cửa biển Thuận An, thành cổ Quảng Trị...

Cuộc chiến đấu tiếp tục phát triển. Các địa phương lần lượt được giải phóng. Các nhóm phóng viên ở các chiến trường đều hoạt động tích cực - Mở đầu đợt viết về cuộc Tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là phóng sự nhiều kỳ: "Đi từ núi Bà Đen tới Thành cổ Quảng Trị", nhiều trang ảnh về giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, Quy Nhơn, Đường 19 và sau đó báo đăng liên tục bài và ảnh của phóng viên ở các mặt trận trên toàn miền Nam cho đến khi giải phóng Sài Gòn vào trưa ngày 30-4-1975.

TRẦN NGỌC