QĐND - Nhiều người từng ví công việc của những chiến sĩ công binh trên trận tuyến thầm lặng - khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh như vậy. Dò tìm, vô hiệu hóa, xử lý bom mìn, vật nổ, chiến sĩ công binh luôn phải đối mặt với hiểm nguy, thậm chí hy sinh xương máu. Họ làm việc bằng khối óc, bàn tay, lòng dũng cảm và bằng cả trái tim!
Miền Trung - Tây Nguyên từng trải qua bao năm tháng chiến tranh khốc liệt. Những địa bàn một thời là chiến địa ác liệt, giành giật quyết liệt giữa ta và địch như Mo Ray, Sa Thầy, Đắc Tô, Tân Cảnh, Sạc Ly… (Kon Tum); Đức Cơ, Ia Grai, Chư Prông, Sê San… (Gia Lai) và nhiều vùng đất ở Đắc Nông, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Bình Định… phải hứng chịu "mưa bom, bão đạn" và chất độc hóa học của Mỹ-ngụy rải thảm. Hai quả bom lớn nhất từ trước tới nay được Bộ đội Công binh tháo gỡ an toàn tại địa bàn huyện Ia Hrung (Gia Lai) và An Lão (Bình Định), chỉ riêng lượng thuốc nổ đã hơn 5 tấn, tổng trọng lượng của bom tới hơn 6 tấn!
 |
Quả bom nặng hơn 6 tấn được Bộ đội Công binh xử lý an toàn tại địa bàn huyện Ia Hrung (Gia Lai). Ảnh: Cảnh An. |
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng hiểm họa bom mìn trong lòng đất luôn đe dọa cuộc sống bình yên của người dân. Nhiều năm qua, cán bộ, chiến sĩ Trung tâm Xử lý bom mìn và môi trường (Binh đoàn Tây Nguyên) thầm lặng “truy tìm”, xử lý bom mìn, vật nổ, chất độc hóa học trên các địa bàn, góp phần trả lại màu xanh cho những vùng “đất chết”. Thượng tá Nguyễn Huy Vượng, Giám đốc trung tâm bộc bạch:
- Đóng quân, làm nhiệm vụ trên địa bàn Tây Nguyên “một thời lửa đạn”, chúng tôi hiểu cuộc sống của bà con đồng bào các dân tộc còn khó khăn, một phần bởi nhiều nơi rừng núi hoang tàn, đất đai cằn cỗi, cây cối xác xơ... bởi chất độc hóa học, bom đạn của Mỹ, ngụy rải xuống. Trong lòng đất còn không ít bom mìn, vật nổ, thực sự là hiểm họa đối với người dân.
Để giúp bà con có đất sản xuất, yên tâm định cư, xây dựng cuộc sống; để các công trình kinh tế, xã hội được an toàn, bền vững, cán bộ, chiến sĩ trung tâm không quản hiểm nguy, gian khổ, dò tìm, đưa đi xử lý hàng trăm tấn bom, đạn, giải phóng hàng chục nghìn héc-ta đất phục vụ sản xuất và xây dựng các công trình phát triển kinh tế- xã hội.
Trung tâm Xử lý bom mìn và môi trường Binh đoàn Tây Nguyên mới được thành lập và đi vào hoạt động hơn một năm qua (theo quyết định của Bộ Quốc phòng), nhưng đơn vị tiền thân của trung tâm là Đội dò gỡ, xử lý bom mìn và chất độc hóa học thuộc binh đoàn thì đã hàng chục năm làm nhiệm vụ thầm lặng, không chỉ ở Tây Nguyên, mà tại nhiều địa bàn khác.
- Nhiệm vụ rà phá bom mìn rất nguy hiểm, nên khi vào việc, bộ đội phải tập trung cao độ, nắm vững cấu tạo, nguyên lý hoạt động của các loại bom, mìn và không được phép sơ suất, dù nhỏ - Giám đốc Nguyễn Huy Vượng cho biết. Do đã nằm sâu dưới lòng đất nhiều năm, nên hầu hết bom, mìn, vật nổ bị hoen gỉ; một số loại mìn chống bộ binh và lựu đạn cài thậm chí đã mở chốt an toàn, khi phát hiện, xử lý, chỉ một sơ suất nhỏ, hậu quả sẽ khó lường.
- Đâu là "bí quyết" để các anh giữ vững an toàn tuyệt đối trong nhiều năm qua? - Tôi "phỏng vấn" Giám đốc Nguyễn Huy Vượng.
- Với cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn thì yêu cầu trên hết, cao nhất là an toàn. Anh em phải thực sự vững tay nghề, dũng cảm và không được phép chủ quan, sơ suất, bởi công việc này không có cơ hội để rút kinh nghiệm...
Những năm gần đây, đơn vị được trang bị các máy móc, phương tiện hiện đại như máy dò Vallon, Milat… nhưng trước khi thực hiện nhiệm vụ, từng tổ, đội vẫn triển khai và tổ chức thục luyện thành thạo cách sử dụng các phương tiện, công cụ; kỹ thuật tháo ngòi nổ, chốt an toàn... Quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ nhiều kinh nghiệm trực tiếp tư vấn, hướng dẫn về chuyên môn; đặc biệt không được chủ quan, làm ẩu, làm tắt, sai quy trình....
 |
Một quả bom được phát hiện tại đoạn đường tránh của công trình thủy điện Sê San 4. Ảnh: Minh Sơn. |
Không chỉ dò tìm, xử lý bom mìn phục vụ phát triển sản xuất, ổn định đời sống của người dân, lực lượng chuyên trách của binh đoàn rất "có duyên" với các công trình xây dựng của ngành Điện lực, Dầu khí. Từ công trình xây dựng Nhà máy thủy điện Ya-ly những năm cuối của thế kỷ trước, đến các công trình thủy điện Sê-san 4, Sê-lốc 3, Đắc Đrinh, Plây Grông... trên địa bàn các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Kon Tum, Quảng Ngãi... đều in dấu chân những người lính công binh của binh đoàn "đi trước" để công trình sớm được khởi công. Có những dự án lớn, đơn vị tham gia dò tìm, xử lý bom mìn trên diện tích hàng nghìn héc-ta, như dự án Thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4... Hiện những người lính của trung tâm đang làm sạch bom mìn tại các dự án xây dựng Nhà máy thủy điện Sông Bung, Đăk Mil 4...
Đối với các công trình xây dựng, Bộ đội Công binh tiến hành dò nông, tiếp đến dò sâu và cam kết với chủ đầu tư đã xử lý an toàn cả về diện tích và độ sâu. Thượng tá Nguyễn Huy Vượng nhớ lại: Chỉ riêng việc rà phá bom mìn để xây dựng đoạn đường tránh của công trình thủy điện Sê San 4, đơn vị đã dò gỡ tới hơn 7 tấn bom đạn, vật nổ các loại, trong đó có hai quả bom loại 250 bảng Anh.
Từng lăn lộn với nhiều dự án rà phá bom mìn trên rừng, dưới sông, suối..., nhưng trong câu chuyện với chúng tôi, Thượng tá, Giám đốc Nguyễn Huy Vượng lại nhắc nhiều đến một dự án với yêu cầu có lẽ là "khắt khe" nhất trong "nghiệp" dò tìm, xử lý bom mìn mà anh và đồng đội từng thực hiện: Rà phá, xử lý bom mìn tại công trình xây dựng tòa tháp cao tầng trong khu vực Nhà máy điện Yên Phụ (cũ), thuộc địa bàn quận Ba Đình, Hà Nội. Đây là địa điểm nằm ở khu vực trung tâm, xung quanh là các tuyến phố sầm uất, rất "nhạy cảm" đối với việc dò gỡ bom mìn. Đặc biệt, công trình tòa tháp đòi hỏi phải dò tìm bom mìn đến độ sâu 10m, trong khi loại máy khá hiện đại các anh được trang bị khi đó chỉ dò được đến độ sâu là 7m (trên lý thuyết), thực tế chỉ dò sâu được 5m.
Nhà máy điện Yên Phụ trong những năm chiến tranh từng là mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Khó khăn lớn khi dò tìm, xử lý bom mìn tại đây không chỉ phải đạt đến độ sâu theo yêu cầu của nhà thầu xây dựng, mà còn bởi dưới lòng đất có rất nhiều than, sắt thép, phế liệu... Các cán bộ, chiến sĩ từng dò gỡ bom mìn tại đây kể lại: Hầu như chỗ nào anh em "áp" máy xuống là đồng hồ máy dò chỉ "kịch kim", tức là có tín hiệu kim loại, hoặc bom mìn. Trên diện tích hơn 1,5ha, hàng tháng trời, những người lính công binh thận trọng, cần mẫn dò nông toàn bộ diện tích; tiếp đó cứ cách chừng 1m lại khoan 1 lỗ sâu, đưa ống nhựa chuyên dùng xuống, để đầu dò của máy theo đường ống, dò đạt tới độ sâu 10m. Trên "nền" của nhà máy nhiệt điện, mũi khoan thường xuyên "chọc" phải các bãi than, xỉ lò, sắt thép phế liệu...; rất khó khăn cả khi khoan và "lồng" ống để dò tìm các "tử thần giấu mặt".
Sự kiên trì, sáng tạo, dũng cảm của những người lính công binh cũng đã được đền đáp. 6 quả bom cỡ lớn được tìm thấy ở sâu trong lòng đất, đưa đi xử lý an toàn. Đến nay, hai tòa tháp đã sừng sững vươn cao, đang bước vào giai đoạn hoàn thiện.
Trung tá Trần Văn Ba, Phó giám đốc Trung tâm Xử lý bom mìn và môi trường binh đoàn từng nhiều năm gắn bó với Phân đội Công binh 17 (Đoàn Đắc Tô). Anh kể: Hơn 2 năm dò gỡ bom mìn phục vụ dự án xây dựng nhà máy thủy điện Plây Grông (Kon Tum), những người lính công binh của binh đoàn cùng các đơn vị bạn đã làm sạch diện tích hàng nghìn héc-ta lòng sông, bờ đập, khu tái định cư... Các dự án thủy điện Sông Hinh (Phú Yên); Buôn Cúc (Đắc Lắc)... đều in dấu chân, thấm đẫm mồ hôi, công sức của những người lính công binh thời bình. Đạn các loại, bom bi là những "chiến lợi phẩm" bộ đội công binh thu được nhiều nhất, trong đó không ít những quả đạn pháo 175mm, đạn M79... rất nguy hiểm. Ngoài diện tích phục vụ dự án xây dựng nhà máy thủy điện và tái định cư, các chiến sĩ công binh còn làm sạch bom mìn tại các vị trí xây dựng cột điện cao thế, trung thế; "mở" hành lang an toàn để công nhân phát tuyến, kéo đường dây truyền tải điện...
- Dò tìm bom mìn trên cạn đã là "cả một vấn đề", còn ở dưới nước thì sao? - Tôi tò mò hỏi Trung tá Ba.
- Tất nhiên là khó khăn, gian khổ hơn nhiều. Bộ đội phải dùng thuyền máy, xuồng cao su, đưa đầu dò của máy "quét" dưới lòng sông, suối. Khi có tín hiệu, anh em mặc đồ lặn, đeo khí tài, mang theo dụng cụ, "truy" đến tận nơi có bom mìn, vật nổ. Nguy hiểm, khó khăn nhất là dò gỡ vào mùa mưa, nước chảy xiết, đục ngầu...
Đến Tây Nguyên, đâu đâu chúng tôi cũng thấy màu xanh bạt ngàn của rừng, của những trang trại cao su, cà phê, điều, hồ tiêu...; nhưng hiểm họa bom mìn dưới lòng đất vẫn luôn rình rập. Gặp chúng tôi, anh Nguyễn Văn Tâm, đang làm rẫy mì (sắn) ở xã biên giới Ia O, huyện Ia Grai (Gia Lai), gần công trình thủy điện Sê San 4 ngừng tay kể:
- Vùng này giáp ranh với nước bạn Cam-pu-chia. Những năm chiến tranh, Mỹ- ngụy ném xuống đây rất nhiều bom đạn, hòng ngăn chặn bộ đội chi viện lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược cho bạn và các khu căn cứ của bộ đội ta. Một lần, khi làm đất trồng mì, chúng tôi thấy một hầm có những quả đạn pháo to và hơn chục quả đạn cối, ai cũng sợ không dám đến gần. Các chú bộ đội công binh biết tin đã về ngay, lấy hết đạn lên, mang đi tiêu tiêu hủy. Không còn chiến tranh, không còn bom đạn trong lòng đất, bà con mình mới an tâm khai phá đất trồng rừng, làm nương rẫy, để cuộc sống ngày một no ấm, yên bình.
Ghi chép của Quân Thủy - Quang Hồi