 |
Thiếu tướng Lê Mã Lương và nguyên chủ tịch huyện Đông Sơn Lê Chí Phan, người chỉ huy đắp đê ngày 14-6-1972
|
Đã qua giờ Ngọ rồi, chúng tôi đành xin phép gia đình ra về. Sự việc ngày càng sáng tỏ tuy con số người chết và bị thương chưa trùng khớp nhau. Nỗi xót xa của người chỉ huy khi tổn thất quá lớn khiến tôi cảm phục ý thức trách nhiệm cao của ông. Đây rõ ràng là một nhiệm vụ chính trị, không thể không làm, dù rằng có thể hy sinh, điều mà chẳng ai muốn. Ban chỉ huy cũng đã có phương án bảo vệ tính mạng người lao động. Nhưng dã tâm của địch cũng đã rõ. Chúng đánh thẳng vào mục tiêu dân sự, đặc biệt là đánh vào đê điều, đánh vào nơi đông dân cư, giết càng nhiều người càng tốt cốt để làm lung lay ý chí, khủng bố tinh thần nhân dân ta. Chúng đánh bất ngờ bằng các thủ đoạn thâm hiểm nhất, giết người bằng những loại vũ khí cải tiến, tối tân nhất. Những người Mỹ mang bom giết hại hàng trăm con người chỉ trong một giờ đồng hồ của cái ngày 14-6-1972 ấy, trong số họ những ai còn sống và những người Mỹ ấy khi biết tin những trái bom do họ ấn nút giáng xuống đầu những con người tràn đầy nhựa sống, cướp đi tuổi thanh xuân phơi phới liệu họ có sám hối về hành động mất nhân tính đó? Biết vậy mà người chỉ huy ấy vẫn chẳng nguôi ngoai nỗi xót xa.
Sáng hôm sau, 14-6-2009, chúng tôi đến nhà Đại tá Lê Xuân Giang tại nhà 3 khu Bắc Linh Đàm, Hà Nội. Đại tá nguyên là chính trị viên đại đội 4 pháo cao xạ 57mm thuộc Trung đoàn 228, Sư đoàn 365 Quân chủng Phòng không-Không quân. Khi ấy, ông đang chiến đấu trên trận địa đồi 54 bảo vệ cầu Hàm Rồng. Lê Xuân Giang là đồng tác giả cuốn ký sự Hàm Rồng, những ngày ấy. Sự kiện ngày 14-6 phần nào được tác giả phản ánh qua cảm xúc của một nhân chứng lịch sử.
“… Cho đến nay, người Hàm Rồng không ai quên vụ tàn sát đẫm máu của giặc Mỹ ở đê Nam Ngạn buổi sáng ngày 14-6 năm ấy. Sau thảm họa đêm 21-4 ở Hoằng Phượng, Hạc Oa, đê Nam Ngạn, một lần nữa phơi bày dã tâm độc ác trời không dung, đất không tha của bọn giặc Mỹ.
Ai đã một lần đi qua Hàm Rồng đều có thể nhìn thấy con đê bên bờ nam, chạy từ đầu cầu xuống đến làng Nam Ngạn. Đây là một khúc đê xung yếu của dòng sông Mã. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần trước, đoạn đê này đã nếm nhiều bom đạn của giặc Mỹ. Mùa lũ sắp đến, đoạn đê xung yếu ấy cần được tu bổ thêm để bảo vệ sự sống còn của khu vực thị xã rộng lớn.
Hơn 2.000 con người tập trung ở một khu vực trọng điểm như Hàm Rồng không một ai có thể coi thường được.
Công việc tiến hành trót lọt gần một tuần rồi. Song trong chiến tranh mọi điều có thể xảy ra.
Buổi sáng ngày 14-6-1972 sương mù dày đặc, lại là ngày 4-5 âm lịch, công trường kéo dài giờ lao động hơn những ngày trước một giờ để hôm sau anh em nghỉ ăn tết mồng 5…
Khoảng 8 giờ sáng hôm ấy, bọn giặc trời ập đến bất ngờ. Hai nghìn con người có mặt trên đê chỉ kịp ngồi thụp xuống phó mặc cho may rủi. Bộ đội trên đồi 54, đồi 57 nhìn xuống có cảm giác như một buổi họp chợ đen đặc người, chen chúc nhau chạy dài theo con đê. Có thể 4 chiếc A7 đi tốp đầu hôm ấy, lúc cất cánh không hề biết có người trên con đê này. Chúng không có nhiệm vụ đánh vào những người đắp đê. Bom chúng ném vào hàng nghìn người vô tội hôm ấy cũng không phải là loại bom chuyên dùng vào việc giết người. Đó là những quả bom to, khi nổ khoét thành hố sâu, có sức công phá lớn, dùng cho những mục tiêu có độ bền vững cao như cầu sắt, các công trình bê tông cốt thép.
Nhưng rồi cái gì đã diễn ra?
Khi chiếc A7 đi tốp đầu tiếp cận mục tiêu, lẽ ra phải lao xuống cầu Hàm Rồng ném bom thì tâm địa độc ác, tàn bạo với đồng loại của chúng đã xui khiến chúng nhằm vào con đê, nơi có hàng ngàn con người đang ngồi chen chúc, hoảng sợ đến chết khiếp đi, không dám nhìn lên trời nữa. Bốn chùm bom phân bổ đều nhau trên quãng đê một cây số chiều dài. Những quả bom tấn rơi vào đầu những con người. Một cuộc tàn sát khủng khiếp trong lịch sử nhân loại. Một Giécnica ở thế kỷ 20 này. Bây giờ chỉ cần nhớ lại thôi cũng đủ rùng mình.
 |
Đoạn đê nơi xảy ra trận ném bom của Mỹ (người chỉ tay là Đại tá cựu binh Lê Xuân Giang). Ảnh: PHẠM HỮU SƠN
|
Tôi đã gặp trực tiếp nhiều người còn sống sót trong vụ tàn sát này. Cháu Thiệp học viên Trường Y là con bác Nghĩa ở Đông Sơn, sau lúc bom nổ hoảng quá cắm đầu cắm cổ chạy một mạch 6 cây số mới dám dừng lại. Cháu được bà con ở đó nuôi nâng chăm sóc 4 ngày sau mới dám trở về. Gia đình bác Nghĩa được phen khóc hết nước mắt. Nhiều cô gái bị bom xé rách nát quần áo, không còn biết xấu hổ là gì, cứ trần trụi như thế chạy vào làng Nam Ngạn. Cô giáo Liên và thầy giáo Vinh ở trường cấp 3 Lam Sơn cùng với bạn bè có mặt trên đê Nam Ngạn buổi sáng hôm ấy. Hai người yêu nhau đã lâu chỉ đợi ngày cưới. Lúc bom nổ, đôi uyên ương này ngồi cùng một hố đào đất. Họ bị đất vùi lên. Vinh che chở cho người yêu gánh chịu mọi đau đớn. Lúc bới đất ngoi lên, hai tai Vinh đã điếc đặc, máu tai rỉ ra từng giọt.
Chỉ trong chớp mắt, hàng trăm mạng người bị chết oan uổng. Hàng trăm người khác mang trên mình thương tật suốt đời… Cô Nghệ người làng Neo, huyện Thọ Xuân ngày còn học sinh nổi tiếng xinh đẹp… Tương lai của Nghệ cũng thật rạng rỡ. Học xong sư phạm là làm cô giáo. Nghệ có thể kén chồng, chọn người chồng chung thủy để tạo dựng một cuộc sống hạnh phúc.
Trận bom ngày 14-6-1972 ở đê Nam Ngạn đã cướp đi một bên chân Nghệ. Cô không đủ sức theo học, đành trở về quê ở với bố mẹ. Là con gái, mọi việc riêng tư đều phải nhờ cậy bố mẹ, chị em hầu hạ Nghệ thấy cực thân lắm. Anh Luận là anh rể Nghệ có lần phàn nàn với tôi:
- Em nó bị thế mà không được hưởng chế độ đãi ngộ gì. Nó càng cực hơn. Đã mấy lần nó định tự tử rồi. Gia đình khuyên ngăn chiều chuộng lắm nó mới nguôi cho.
- Sao lại không có chế độ? Tôi hỏi.
- Thế đấy. Lúc em nó bị thương còn là diện học sinh chưa thuộc diện biên chế Nhà nước…
Cô giáo Hoàn tốt nghiệp trường 10+1 được điều về dạy học ở Hàm Rồng… Trong trận 14-6 ở đê Nam Ngạn, Hoàn chỉ bị một tảng đất giáng vào ống chân đau điếng. Khi cô hoàn hồn nhìn ra xung quanh, một cảnh tượng khủng khiếp đập vào mắt cô. Những người ngồi vây xung quanh Hoàn, người gục xuống, người văng đi tận xa, máu me bê bết. Có người nằm giẫy đành đạch giữa vũng bùn và máu trộn lẫn đặc sệt màu nâu. Hoàn nhìn thấy hai cái đầu con gái đứt ra khỏi thân lăn xuống hố đào đất. Những thân người bị xé toạc ra ở bụng, ở ngực, ruột gan phòi ra vẫn thở thoi thóp. Hoảng sợ quá, Hoàn vùng chạy. Cô chạy lên cầu Hàm Rồng, theo đường chân núi. Về đến nhà, Hoàn mới biết người cô cũng bê bết máu. Hoàn không khóc cũng không biết sợ nữa. Khi mặc bộ quần áo khác lên người, Hoàn mới tin mình còn sống...”.
Đã đến lúc cần lập ra một Ban liên lạc với những con người tâm huyết và đầy trách nhiệm để chúng ta có được những thông tin chính xác về những con người đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ trong cái ngày 14-6-1972, những con người đang sống với những thương tật hiện đang phiêu dạt nơi đâu, để có chính sách thỏa đáng với họ, dù đã quá muộn.
Chúng tôi hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ được nhìn thấy một đài tưởng niệm hoành tráng được xây dựng ngay tại nơi xảy ra sự kiện bi thương ấy, nằm trong không gian các di tích lịch sử cách mạng khu vực Hàm Rồng. Những việc làm có ý nghĩa đó sẽ được nhân dân và lịch sử ghi nhận theo đúng truyền thống “Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây” vốn là đạo lý muôn đời của dân tộc ta. Sự hy sinh của họ không vô nghĩa. Đó là những người đã dâng hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc. Còn những người thoát chết trong trận bom định mệnh ấy nhưng mang trên người thương tật đang hằng ngày vật lộn mưu sinh trong cuộc sống và âm thầm chịu đựng đau đớn khi thời tiết thay đổi. Tất cả họ cần được tôn vinh. Tổ quốc và nhân dân mãi mãi không quên những người con ưu tú, trai tài gái đảm đã góp xương máu mình để đất nước có được cuộc sống hòa bình như ngày hôm nay.
Thiếu tướng LÊ MÃ LƯƠNG
Hàm Rồng, ký ức về trận bom ngày 14-6-1972