QĐND - Gần, vì giao thông thuận tiện, du lịch phát triển đã mang đến những diện mạo mới trong bộ mặt đời sống kinh tế-xã hội ở đảo Cô Tô. Xa-ấy là câu chuyện với những khó khăn khó nói hết bằng lời của người lính Tiểu đoàn đảo Cô Tô, Lữ đoàn 242 (Quân khu 3) đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo mà tôi phần nào ghi nhận được trong những ngày đến với họ...
Cô Tô đã gần hơn
Tôi đến đảo Cô Tô vào một ngày mùa thu, sau trận mưa lũ lịch sử. Trước khi đặt chân lên đây, tôi vẫn mường tượng về hòn đảo nhỏ trong vịnh Bắc Bộ này qua những dòng bút ký của nhà văn Nguyễn Tuân trong tập ký “Cô Tô” năm 1965: “Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo sáng sủa. Sau mỗi lần giông bão, bao giờ bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy. Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lại lam biếc đậm đà hơn hết cả mọi khi, và cát vàng lại giòn hơn nữa”. Và Cô Tô thì nằm ở khá xa, giữa bốn bề sóng nước mênh mông. Bởi thế tôi vẫn không tin, dù được nhiều người cho biết thời gian từ cảng Vân Đồn đến đảo Cô Tô chỉ khoảng một giờ 30 phút bằng tàu cao tốc.
 |
|
Các pháo thủ Khẩu đội 1, Trung đội Pháo binh 1 (Đại đội Pháo binh 85, Tiểu đoàn đảo Cô Tô) luyện tập bắn mục tiêu vận động trên biển.
|
Bước lên tàu, lòng tôi bồn chồn vì không biết bao giờ mới đến Cô Tô. Nhìn tôi trong bộ quân phục và nhận thấy vẻ bồn chồn của tôi, người phụ nữ ngồi cạnh liền hỏi:
- Chắc đây là lần đầu tiên em ra Cô Tô?
- Vâng, thưa chị. Nhưng sao chị lại biết em ra Cô Tô lần đầu? Tôi hỏi và cười.
- Người dân và anh em bộ đội trên đảo coi nhau như người nhà, thế nên ai mới ra, chúng tôi biết hết. Thế em ra đây đóng quân hay chỉ ra công tác?
- Em ra công tác ít hôm thôi. Chị vào đất liền thăm người thân hay có công việc gì?
- Chị vào thăm đứa cháu mới sinh, nhà ở TP Hạ Long, từ hôm qua. Từ ngày mở tuyến tàu cao tốc này, việc đi lại giữa đảo với đất liền thuận tiện hẳn. Thăm thân nhau, đi khám bệnh… dễ dàng và có thể đi về ngay trong ngày. Em ra đây công tác, hôm nào bảo anh em dẫn đến nhà chị Nguyễn Thị Hương ở thôn Hải Tiến, xã Đồng Tiến (huyện đảo Cô Tô-PV) chơi.
Tôi cảm ơn chị Hương và xin phép ngắm cảnh trên biển. Cảnh tượng núi non hùng vĩ mọc lên sừng sững từ giữa lòng biển khơi trong vịnh Bái Tử Long khiến tôi mê mải. Thế rồi, đảo Cô Tô hiện ra trước mắt tôi từ lúc nào. Phía xa xa, hướng con tàu đang lao tới, nhấp nhô những ngôi nhà cao tầng được sơn màu vàng nổi lên giữa màu xanh của núi rừng trên đảo. Sau này tôi được biết, đó là một góc nhỏ của thị trấn Cô Tô, chính xác hơn là những khách sạn, nhà nghỉ mới được xây dựng cách đây vài năm phục vụ du khách ra thăm đảo.
Cuối cùng, tôi cũng đặt chân lên đảo Cô Tô sau đúng một giờ 30 phút, từ lúc tàu xuất phát. Cô Tô khác xa với những hình dung của tôi. Thị trấn Cô Tô sầm uất và đông đúc không kém gì một thị trấn trong đất liền. Những chiếc xe điện 12 chỗ, 16 chỗ chở khách du lịch tấp nập qua lại trên các dãy phố được trải bê tông sạch sẽ. Những ngôi nhà kiên cố mọc lên san sát nhau, bên cạnh các khách sạn, nhà hàng với kiến trúc hiện đại.
Đang còn mải mê trước cảnh tượng của Cô Tô thì có tiếng gọi khiến tôi giật mình. Thượng úy Vũ Đức Hoách, Chính trị viên phó Đại đội Pháo binh 85, Tiểu đoàn đảo Cô Tô, đến đón tôi về đơn vị. Trên đường đi, anh Hoách cho tôi biết, thời điểm này lượng khách du lịch đã ít đi nhiều. Khoảng một tháng trước, đường phố Cô Tô nườm nượp khách du lịch. Tôi hỏi anh Hoách, du lịch trên đảo phát triển thế có ảnh hưởng tới đời sống bộ đội không? Anh Hoách cười bảo: “Nhờ làm tốt công tác tăng gia sản xuất mà có thời điểm giá một mớ rau muống lên tới 15.000 đồng, chúng tôi vẫn bảo đảm được chất lượng bữa ăn của bộ đội. Nhưng với anh em cán bộ thì có đấy. Vào mùa cao điểm về du lịch mà có vài người bạn ra thăm thì mời bạn ăn sáng cũng hết đến tiền triệu rồi”.
Hôm đến nhà Chủ tịch UBND xã Đồng Tiến Trần Văn Dinh, tôi được anh cho biết: “Trước kia người dân đi lại bằng thuyền gỗ, 2 đến 3 ngày mới có một chuyến. Bây giờ thì có đến 3, 4 chuyến một ngày. Giao thông thuận tiện còn giúp giao lưu văn hóa giữa người dân trên đảo với đất liền phát triển; các loại hàng hóa phong phú, đa dạng, giá rẻ… đã thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương phát triển nhanh”.
Phải đến hôm chia tay cán bộ, chiến sĩ trên đảo để trở về Hà Nội, tôi mới thấy Cô Tô gần đến mức nào. Buổi trưa, tôi vẫn ăn cơm ở Tiểu đoàn đảo Cô Tô rồi đánh một giấc ngon lành đến 13 giờ 30 phút. Sau đó, 13 giờ 45 phút, tôi xuống tàu. 14 giờ, tàu chạy. 15 giờ 30 phút, tàu cập cảng Vân Đồn. 21 giờ 30 phút, tôi có mặt ở nhà tại Hà Nội. Tổng cộng thời gian từ đảo về đến nhà chỉ 8 giờ, chưa trừ một giờ uống nước, nghỉ ngơi.
Nhưng vẫn còn xa...
Với người dân và du khách, Cô Tô đã gần hơn rất nhiều. Nhưng với những người lính ở Tiểu đoàn đảo Cô Tô, đất liền vẫn còn khá xa. Xa bởi nhiệm vụ và xa bởi nhớ anh em, đơn vị. Theo một “thống kê không chính thức” của đơn vị thì có đến hơn 90% anh em cán bộ trong đơn vị không ở bên vợ lúc sinh con. Có đồng chí, mặc dù đã căn ngày vợ sinh rất kỹ để cắt phép về nhưng hết phép mà vợ vẫn chưa sinh, đến khi vừa mới trở lại đơn vị thì cũng là lúc vợ vừa sinh con xong.
Đại úy Hoàng Văn Đạt, Trợ lý chính trị Tiểu đoàn đảo Cô Tô vừa trở lại đơn vị sau 2 tuần nghỉ phép bên gia đình và cậu con trai hơn một tuổi. Ngày trả phép cũng là lúc bố con vừa quen nhau và quấn nhau. Anh Đạt tâm sự: “Tôi về phép lần vừa rồi cách lần trước đó 5 tháng. Lúc đó, cháu còn bé nên ai bế cũng theo. Bây giờ cháu lớn hơn, biết nhiều hơn nên thấy bố lạ, cháu không cho bế. 5 hôm đầu tiên, mỗi lần muốn bế con, tôi lại phải mang bánh ra để dỗ cháu. Ăn hết bánh, cháu lại không theo”.
Quê anh Đạt ở xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, cách đơn vị hơn 250km. Anh nhận nhiệm vụ tại Tiểu đoàn đảo Cô Tô từ năm 2010, trước đó anh là Chính trị viên Đại đội 7. “Thời gian đó tôi làm công tác huấn luyện chiến sĩ mới, phải thường xuyên gần gũi, uốn nắn, chỉ bảo, động viên anh em nên không có thời gian để về. Với lại, khi ấy tôi chưa có vợ, về nhà chỉ được 2, 3 ngày là nhớ anh em, nhớ đơn vị nên mỗi lần về cứ đắn đo mãi việc đi hay ở lại”, Đại úy Hoàng Văn Đạt chia sẻ.
Thấy con trai mải mê ở đơn vị, mẹ anh lo nên quyết tìm vợ cho anh. Tháng 3-2013, trong lần anh Đạt về nghỉ phép, mẹ anh dẫn anh đến ra mắt cô giáo Đoàn Thị Lan, giáo viên Trường Tiểu học xã Yên Thành. Vốn yêu màu áo lính nên cô giáo Đoàn Thị Lan đã sớm dành tình yêu cho Đại úy Hoàng Văn Đạt. Sau lần gặp nhau ngắn ngủi ấy, Đại úy Hoàng Văn Đạt trở lại đơn vị. 5 tháng yêu nhau trong xa cách trước khi họ tiến tới ngày cưới, chiếc điện thoại là cầu nối để 2 người trò chuyện tìm hiểu thêm về nhau và động viên, chia sẻ với nhau về công việc của mình. Hiểu được công việc của anh Đạt, cô giáo Lan động viên: “Công việc của anh quan trọng hơn, anh hãy luôn cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ”. Cứ thế, tình yêu của họ nhân lên qua từng ngày... 5 tháng sau, ngày 8-10-2013, họ nên duyên vợ chồng. Ngày 15-7-2014, cháu Hoàng Khánh Duy ra đời trong niềm vui của 2 bên gia đình.
Chuyện như của Đại úy Hoàng Văn Đạt đối với anh em trong đơn vị không phải hiếm, nhất là với những người có gia đình ở xa. Ngay cả với những người có gia đình chỉ cách đơn vị vài chục ki-lô-mét thì việc về phép cũng khó khăn vì bận công tác. Trường hợp của Thiếu tá Trần Kim Tuấn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đảo Cô Tô là một ví dụ. Nhà anh ở ngay TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, cách đơn vị chưa đầy 100km, nhưng anh cũng rất ít có thời gian về thăm con trai mới sinh được hơn 3 tháng, dù theo quy định thì cứ 2 tuần, cán bộ tiểu đoàn được về phép một lần. Ấy thế mà anh chỉ thường tranh thủ thăm vợ con sau những lần họp ở lữ đoàn hay dự hội nghị... rồi lại vội vàng ra đơn vị ngay.
Ngay cả khi có phép thì anh em cũng chưa dám chắc về thăm nhà ngay được, bởi đôi khi là nhiệm vụ đột xuất và còn phụ thuộc vào biển. Có nhiều anh em được về phép đã mua hải sản, đóng thùng chuẩn bị về nhà thì hôm sau biển động, tàu không thể vào bờ. Vậy là, anh em trong đơn vị được chiêu đãi... miễn phí một bữa tươi. Bởi thế, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn đảo Cô Tô có một kinh nghiệm: Không báo trước cho người thân và gia đình khi chưa lên xe, vừa để người thân bớt mong ngóng sốt ruột, vừa tránh mang tiếng lỡ hẹn.
Ghi chép của Nguyễn Đức Tuấn
(còn nữa)