QĐND - 30 năm sau khi nghỉ hưu, ngày nào ông Nệ cũng có học trò đến xin học ngoại ngữ. Những đứa trẻ từ cấp 1 đến cấp 3 nhờ ông kèm cặp nay đã nên người, viết thư về thăm thầy từ mọi miền đất nước. Lớp học miễn phí của ông không những dạy chữ mà còn dạy các em làm người, còn ông thì nói: Dạy người cốt để học người.

Chưa một lần chính thức đứng trên bục giảng nhưng từ trong làng Tân An đến các xã khác, từ trẻ con đến người lớn đều kính trọng gọi ông là thầy. Người thầy giáo suốt 30 năm cần mẫn truyền thụ kiến thức ngoại ngữ cho đủ các lứa tuổi, là ông Phạm Hữu Nệ, cán bộ hưu trí ở xã Quảng Thanh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Quê ông ở xã Cảnh Dương, một xã nổi tiếng anh hùng thời chống Pháp. Năm 17 tuổi, ông là một trong những đội viên du kích kiên cường chiến đấu bảo vệ làng. Sau hòa bình, anh học trò nhà nghèo vừa làm ngư dân vừa học phổ thông, đã thi đỗ vào Trường Đại học Nhân dân (tiền thân của Trường Đại học Kinh tế quốc dân). Chính từ mái trường này đã đào tạo ông có kiến thức vào đời và giúp ông có vốn ngoại ngữ phong phú, được trau dồi thêm qua nghiên cứu để truyền lại cho con cháu sau này. Trên 20 năm công tác ở Bộ Vật tư và Xí nghiệp Sông Gianh, năm 1982 ông Nệ nghỉ hưu.

Ông Phạm Hữu Nệ đang nghiên cứu sách ngoại ngữ.

Vốn sinh ra ở làng biển, công tác ở Thủ đô nên khi về ở quê vợ là vùng đất thuần nông, ông chẳng biết làm gì để giúp đỡ gia đình. Vợ ốm yếu, các con còn nhỏ, đồng lương hưu chẳng đáng là bao, hai ông bà làm thêm nghề tráng bánh đa. Những tháng ngày này đất nước còn khó khăn, nhưng ông Nệ luôn quan tâm đến việc học tập của con cháu trong làng. Môn ngoại ngữ là sở trường của ông, nhưng học sinh nhận thức yếu, bởi vậy ông nảy ra ý định bồi dưỡng thêm kiến thức cho các cháu. Ban đầu là con cháu trong gia đình, họ tộc, tiếng lành đồn xa, nên cả làng và các xã lân cận đều gửi con đến nhờ thầy Nệ dạy. Học trò nào được thầy Nệ dạy đều có kết quả nổi trội. Tính đến cuối năm 2012 đã có gần 1 nghìn học sinh nhờ thầy dạy tiếng Nga, tiếng Anh. Từ căn nhà nhỏ lúp xúp ngày xưa và mới được nâng cấp hiện nay, thầy Nệ đã tổ chức hàng trăm buổi lên lớp, chủ yếu cho học sinh từ lớp 6 đến 12.

Ông Nệ kể rằng: Vào những ngày nghỉ hè, học sinh đến đông nhất, có khi một ngày phải dạy 4 lớp. Để tổ chức cho các cháu đi học đỡ vất vả, ông bố trí thời gian biểu hợp lý. Những cháu ở trong thôn, trong xã học buổi gần trưa và chiều tối, các cháu ở xa học buổi sáng và đầu giờ chiều. Nhiều cháu đi học xa lại cách sông, cách đò nhưng vẫn không ngày nào bỏ học. Có lúc mưa to hoặc giá rét các em chưa về được, bà Cúc - vợ ông lại bưng ra những đĩa bánh, rổ khoai còn nóng hổi để các em ấm lòng vượt đường xa. Trong số những cô cậu học trò hiếu học ngày ấy, đã có những người thành đạt, có người là thạc sĩ, tiến sĩ. Ví như em Hoàng Thị Oanh, từ một cô học trò nghèo được thầy kèm cặp đã đạt học sinh giỏi môn tiếng Anh, được tuyển thẳng vào Trường ĐHSP Huế và nay là Thạc sĩ sư phạm tiếng Anh. Rồi cô Phùng Thị Hoa, cũng là học trò theo học thầy nhiều năm, nay là Thạc sĩ về công nghệ môi trường…

Học sinh của thầy Nệ hiện nay thành đạt nhiều, công tác khắp mọi miền, vì ở tuổi gần 80 nên thầy không nhớ hết. Thầy chỉ nhớ những học trò cá biệt, những cô cậu nghèo nhưng có chí vượt khó để học. Cuốn sổ lưu bút của các học trò và những bức thư, bưu thiếp chúc Tết, mừng thọ thầy ở khắp nơi gửi về ngày càng nhiều, thầy xếp đầy tủ sách. Cháu nào thi đỗ đại học, thầy đều có quà chúc mừng. Có một “chuyện vui”, bà Cúc đã kể cho tôi nghe: Khoảng gần chục năm trước, học sinh đến học ngoại ngữ ngày càng đông, căn nhà hai gian của thầy vốn đã chật chội càng chật thêm, thầy phải che bạt ra hiên để các em ngồi nghe giảng. Buổi sáng hôm ấy, thầy đang dạy thì anh cán bộ văn xã đưa cho thầy tờ giấy “Triệu tập”. Chưa bóc thư, thầy tần ngần suy nghĩ: Mình làm gì sai mà xã triệu tập? Rồi sau đó có em học sinh hỏi bài, đến giờ vào lớp nên thầy quên mất cái giấy triệu tập của xã. Khi có giấy “Triệu tập” lần hai, thầy bỏ một buổi dạy để đạp xe lên ủy ban.

Cán bộ xã chất vấn ông về việc dạy thêm, về tiền học phí, về trật tự an ninh… Ông Nệ bực lắm nhưng ôn tồn giải thích rằng: Ông không dạy thêm vì không phải là giáo viên; từ khi mở lớp đến nay ông không thu một đồng học phí, thậm chí còn trích lương hưu thưởng cho các em học giỏi. Còn trật tự an ninh thì lâu nay bà con trong xóm chưa có ai phàn nàn gì về lớp học của thầy. Rồi để kết thúc buổi làm việc, ông nhẹ nhàng vỗ vai cán bộ xã: Bữa sau có việc gì thì xã nên viết “Giấy mời”, nếu còn “Triệu tập” nữa là tôi không lên đâu, nhiều học trò đang chờ tôi về giảng bài. Cán bộ xã biết là hiểu nhầm, xin lỗi ông và mấy ngày sau cũng đem con tới gửi nhờ thầy bồi dưỡng thêm môn tiếng Anh.

Thực ra thì ban đầu ông Nệ dạy tiếng Nga. Hồi ở Trường Đại học Kinh tế quốc dân, ông học giỏi môn tiếng Nga. Người dạy tiếng Nga cho ông lúc ấy là thầy giáo Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ. Nhắc đến người thầy năm xưa, ông Nệ rất kính trọng và lục trong tủ đưa cho tôi xem bức thư của ông Nguyễn Mạnh Cầm, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam. Thư viết: “Thật là bất ngờ thú vị, một người đã học tiếng Nga cách đây gần nửa thế kỷ mà tôi may mắn truyền đạt ít nhiều hiểu biết của mình sau khi về hưu lại tiếp tục cống hiến bằng việc dạy tiếng Nga, tiếng Anh cho nhiều học trò, trong đó có nhiều người thành đạt. Chúc anh mạnh khỏe để đóng góp nhiều cho sự phát triển của địa phương…”.

Cách nay khoảng 20 năm, do nhu cầu của học sinh nên ông Nệ chuyển dạy tiếng Nga sang tiếng Anh. Mặc dù vốn tiếng Anh còn hạn chế, nhưng ông vừa dạy vừa nghiên cứu. Ông phối hợp với các trường cấp 2 của xã, cấp 3 của huyện để xây dựng giáo án, tìm cách dạy sao cho các em dễ hiểu, dễ nhớ. Bằng cách lên lớp cho các em cách dịch, cách viết một đoạn văn, cách đọc truyện cổ tích, đối thoại với nhau, học trò nhanh thuộc bài. Hình thức dạy cũng thật đa dạng, không nhất thiết ở trên lớp. Có bận vào mùa thu hoạch lúa, ông thông báo nghỉ dạy hai ngày để ra đồng gặt giúp bà. Học trò biết vậy kéo nhau ra ruộng, đứa gặt, đứa vận chuyển, hai sào lúa chỉ vèo buổi sáng là xong. Giờ nghỉ giải lao, thầy và trò ngồi ngay triền đê vừa hóng mát vừa nói chuyện trồng trọt, chăn nuôi bằng… tiếng Anh, bà con trầm trồ khen giỏi.

Vợ ông Nệ người cao dong dỏng, gầy gò nhưng hay chuyện. Bà kể cho tôi nghe chuyện mấy lần ông đi tìm nhà học trò để gửi lại tiền “bồi dưỡng” mà cô cậu nào đó cố tình bỏ quên trên bàn. Vào học ông đã “quán triệt” rằng: Thầy đã có lương hưu rồi, dạy học để giúp các em mở mang thêm ngoại ngữ chứ không phải vì tiền. Thế nhưng học trò thấy nhà thầy hoàn cảnh quá nên thỉnh thoảng vẫn để lại mấy chục nghìn đồng sau giờ học. Khổ thân ông cụ lại cọc cạch đạp xe đi hỏi nhà từng đứa để trả lại tiền, ông dọa cho nghỉ học nếu em còn “tái phạm”. Rồi chuyện năm xưa, bà mẹ ông Nệ tuổi đã trên 90 bị ốm nặng, ông đạp xe hơn 20 cây số về thăm bà buổi sáng, chiều lại vội quay về dạy cho các em để kịp chuẩn bị kỳ thi. Chuyện “vác tù và” của ông, bà kể cả ngày không hết.

Nhìn lên bức tường treo ảnh và bằng khen của gia đình, tôi vẫn thắc mắc tại sao có thành tích như vậy mà ông Nệ không có giấy khen của hội khuyến học của xã, của huyện. Hỏi ra mới biết vì ông không phải là cựu giáo chức nên xã… không khen! Lại một sai sót đáng tiếc về nhận thức. Nhưng ông Nệ không phiền lòng vì chuyện ấy, trái lại còn rất tự hào về truyền thống cách mạng của gia đình. Bố ông là du kích, chuyên vận tải vũ khí chi viện cho chiến trường Trị Thiên bằng đường biển. Bản thân ông cũng là du kích chống Pháp, vợ chồng ông sinh được bốn anh con trai thì cả bốn đều tham gia quân đội, trong đó có hai người là cựu quân nhân. Hai người đang tại ngũ là Thượng úy Phạm Hữu Cương, trợ lý quân khí của Huyện đội Hương Trà (Thừa Thiên-Huế) và Trung úy Phạm Lê Thông, nhân viên sữa chữa xe thiết giáp của Bộ CHQS Quảng Bình. Bởi thế, gia đình ông vui nhất là Ngày Thành lập Quân đội nhân dân và Ngày Nhà giáo Việt Nam. Mặc dù cái bảng đen và mấy bộ bàn ghế tự đóng của ông còn đơn sơ, mái tóc đã bạc trắng, nhưng các lứa học sinh và bà con xa gần luôn kính trọng gọi ông bằng Thầy.

Bài và ảnh: XUÂN VUI