Cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) cùng quê Nghi Xuân-Hà Tĩnh và sống cùng thời với cụ Nguyễn Du (1766-1820). Thuở nhỏ, sống ở vùng quê đất phèn chua mặn nghèo khổ, nhưng việc học của cụ lại rất lỗi lạc. Giai thoại kể rằng: Một hôm trên đường đi học, khi gặp một quan võ kéo quân đi qua nhưng Trứ không chịu tránh nên bị lính hạch tội. Ông quan võ nọ bắt Trứ vịnh một bài thơ, nếu không sẽ bị đòn. Trứ thản nhiên đọc ngay bài thơ "chơi chữ":
Đoán xem văn võ cả hai hàng
Bên văn sang bên võ cũng sang
Dù tía, võng xanh văn đủng đỉnh
Gươm vàng, thẻ bạc võ nghênh ngang
Võ thét oai hùm dẹp bốn phương
Gặp hội thái bình văn trước võ
Võ đâu dám sánh khách văn chương!
Cậu trò nghèo tài "chơi chữ", với hai câu kết đã làm cho ông quan võ thấy mình bị coi khinh là võ biền kém cỏi không bằng "khách" văn chương, liền bảo quân lính phết cho Trứ mấy roi để ra oai, nhưng rồi cũng thưởng cho Trứ mấy nén bạc vì tài đối đáp.
Một bận khác có việc đi đường xa, trời rét, Trứ ghé quán nước bên đường nghỉ lại, lại bất ngờ gặp đại binh của tả quân Lê Văn Duyệt đi qua. Mọi người đều dẹp hết, né xa, riêng Trứ vẫn đắp chiếu nằm ngủ giữa ổ rơm. Tả quân Lê Văn Duyệt thấy lạ, bảo lính đánh thức dậy, thấy đó chỉ là một học trò nho nhã, liền bắt ông vịnh cảnh "nằm ổ rơm đắp chiếu", nếu hay sẽ được tha. Nguyễn Công Trứ liền ứng khẩu rất nhanh:
Ba vạn anh hùng đè xuống chiếu
Chín lần thiên tử đội lên rơm
Cái hay tinh tế của lối chơi chữ đối đáp của Trứ ở chỗ chỉ “rơm” là "anh hùng rơm", còn “chiếu” ứng với "chiếu chỉ" của nhà vua... Tả quân Lê Văn Duyệt vừa khen hay, vừa thưởng tiền cho Trứ...
Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đậu giải nguyên, ra làm quan dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới triều đại nhà Nguyễn, là một vị quan hay văn, giỏi cả võ, lập nhiều công lao. Ông là một viên quan thanh liêm, nên vẫn nghèo. Khi Hà Tôn Quyền làm Thượng thư bộ Lại, Nguyễn Công Trứ chỉ là "hạ quan" hầu việc trong dinh, nhưng có tài. Tôn Quyền "hiềm khích", một hôm nói với Nguyễn Công Trứ: "Tôi có ra một câu đối thử bọn trẻ trong nhà mà chúng không đứa nào đối được...". Nguyễn Công Trứ biết Tôn Quyền muốn "chọc" mình, nên "lễ phép" hỏi lại: "Bẩm câu gì ạ?". Tôn Quyền nói, câu này là: "Quân tử ố kỳ văn chi trú"-ngầm ý mỉa mai: người quân tử ghét... ông Trứ hay văn...
Nguyễn Công Trứ hiểu là Tôn Quyền chơi xỏ mình, liền trả lời: "Để tôi đối thử câu này... là "Thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền". Nguyễn Công Trứ dùng lối chơi chữ, ý nói bất đắc dĩ lắm nhà vua mới dùng Tôn Quyền làm quan chứ có quý hóa gì. Tôn Quyền ấm ức mãi...
Nguyễn Công Trứ không chỉ là vị quan văn-võ đều giỏi mà còn là vị doanh điền sứ nổi tiếng đã có công lao to lớn tổ chức khai khẩn đất hoang thành lập ra hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn cùng hai tổng Hoành Thư và Đinh Nhất (Nam Định). Nhân dân trong vùng ghi nhớ công ơn to lớn ấy, đã lập đền thờ cụ ngay khi cụ còn sống cũng như sau này.
Năm 71 tuổi, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ cáo lão về hưu. Trước khi rời kinh đô, ông sắm cỗ xe... bò, nhưng cho mang nhạc ngựa, để đi chào từ biệt bạn hữu. Khi tới nhà Thượng thư Tôn Quyền "bất đắc dĩ nhà vua mới dùng...", ông cho chép bài thơ tứ tuyệt lên tấm mo cau rồi buộc vào phía trong đuôi bò. Khi Hà Tôn Quyền tiễn khách ra về, đọc bài thơ "chơi chữ" của cụ thì mặt tím lại:
Xuống ngựa, lên xe, chớ tưởng nhàn
Lợm mùi giáng chức với thăng quan
Điền viên, dạo chiếc xe bò cái
Sẵn tấm mo, che... miệng thế gian!
Làm quan, tài văn giỏi võ, có nhiều công lao mở đất cho dân nhưng Doanh điền sứ là vị quan thanh liêm nên nghèo khó, sống lạc quan thanh bạch với khí tiết của nhà nho. Đón Tết, ông làm câu đối "chơi chữ" đón xuân:
Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra khỏi cửa
Sáng mồng một rượu tràn quý ty, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
Với chí khí của nhà nho, không cần Lộc-Thọ-Khang-Ninh, chỉ cần đón ông Phúc vào nhà cũng đủ có trọn cả mùa xuân. Đến nay người đời đọc câu đối của ông vẫn còn thấy sảng khoái.
THẾ NGỌC st