Tháng 12 năm đó, tôi nhận lệnh của Tổng biên tập Trần Công Mân sang công tác tại 3 tỉnh cực bắc của Lào. Sau gần một tháng lặn lội ở vùng biên giới các tỉnh Luang Namtha, Oudomxay, Phongsaly về, tôi viết ký sự "Nơi đầu luồng gió bấc" khoảng 3.000 từ, đăng ở chân trang 2 Báo QĐND. Anh Toại hoàn thành nhiệm vụ về nước, câu đầu tiên anh nói với tôi: “Ông là Trọng hả? Mình giới thiệu rất kỹ với phóng viên bạn về cái tít "Nơi đầu luồng gió bấc" của ông. Xin ngả mũ 3 lần”(!) Tôi biết anh Toại quá khen. Vả chăng, cái tít đó là “công trình tập thể”, trong đó có sự góp ý của hai vị "tiên chỉ làng báo" là Phạm Phú Bằng và Đinh Khánh Vân.
 |
Đại tá, nhà báo Nguyễn Đức Toại, tháng 9-2013. Ảnh: HÙNG KHOA
|
Anh Đức Toại và anh Khánh Vân hơn tôi đúng một “giáp”, cùng cầm tinh con mèo. Anh Đức Toại giống anh Khánh Vân ở chỗ say nghề báo đến lạ lùng. Nếu như anh Khánh Vân giấu bệnh rối loạn tiền đình để từ Stung Treng leo lên Preah Vihear (Campuchia), trùm chăn, nén cơn sốt rét rừng để hoàn thành bài ký về Campuchia dưới thời Pol Pot thì anh Đức Toại cũng đã làm đơn xin cắt ngón tay bị thương, nhiễm trùng để ở lại chiến trường. Trong nghề báo, anh Toại nổi bật ở thành công trong xây dựng điển hình và rút tít. Anh thường khuyên anh em phóng viên trẻ: "Phải tìm và xây dựng điển hình. Không có điển hình thì phong trào không có ngọn cờ. Có điển hình rồi thì phải rất công phu khi rút tít. Tít là cái “thần” của bài. Một tin ngắn cũng cần cái tít hay".
Cùng lãnh đạo phòng và nhiều anh em khác, nhà báo Đức Toại là “kiến trúc sư” của “Cờ Ba nhất”, “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “Một thắng 20”... Sau này, anh tổng kết, viết thành sách ý nghĩa của chuyên mục "Phất cờ điển hình” trong công tác báo chí.
* * *
Cuối năm 1981, tôi và anh Đào Văn Sử nhận lệnh vào thường trú tại các tỉnh phía Nam và phải luôn trong tư thế sẵn sàng sang chiến trường Campuchia. Anh Toại về nhận nhiệm vụ Trưởng phòng biên tập Quân sự (nay là Phòng biên tập Quốc phòng-An ninh). Ngày ấy, phóng viên vào TP Hồ Chí Minh, sinh hoạt trong ban đại diện nhưng tin, bài vẫn gửi về phòng cũ mình công tác (gọi là phòng chủ quản). Vì thế, tin, bài, ảnh của tôi vẫn qua tay anh Toại. Quan điểm của Trưởng phòng Đức Toại là đặc biệt ưu tiên xếp bài phóng viên chiến trường nên thường là ống báo vừa rời ban đại diện tại 63 Lý Tự Trọng, TP Hồ Chí Minh vài ngày đã thấy xuất hiện trên teletype. Nhóm phóng viên thường trú phía Nam luôn được Ban biên tập và chỉ huy các phòng ưu ái nên càng hăng say công tác. Riêng anh Đức Toại, lần nào nhận được tin, bài của tôi, anh đều có thư hồi đáp. Ngày ấy làm gì có điện thoại, internet như bây giờ; toàn thư viết tay và gửi ống báo. Có hôm, tôi nhận thư tay của anh dày 4-5 trang giấy, thật cảm động.
Năm 1982, tôi và anh Hà Phạm Phú được cử sang Campuchia. Tôi đi Siem Reap về, viết ký sự "Nắng đầu mùa", trong đó có chương "Những kỷ niệm ngọt ngào và cay đắng". Tôi mô tả khá kỹ về sự phản bội trắng trợn của Khmer Đỏ đối với Việt Nam nói chung và với Đoàn C50 của anh Ba Bao nói riêng. Ngòi bút tràn đầy cảm xúc, tôi cảm thán:
Sông sâu còn có thể dò
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng!
Anh viết thư cho tôi, rằng: Đọc tới đó, anh đã phẫn nộ thật sự, bật đứng lên, đấm mạnh xuống bàn khiến anh em trong phòng ngơ ngác.
Làm phóng viên mà gặp thủ trưởng như ông Mân, ông Túc, những trưởng, phó phòng và các bậc đàn anh như anh Khôi, anh Toại, anh Vân, anh Phú Bằng... thì thật hạnh phúc.
Anh Đức Toại sống nguyên tắc nhưng lại là người đa cảm. Anh đa cảm và ngày càng dễ xúc động vì anh được chị gái, vợ và bạn bè cưng chiều (chuyện bày binh bố trận của Phòng biên tập Quân sự cho anh ra mắt bố vợ tương lai là một câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn!).
Sự tận tụy của anh với bạn đồng nghiệp và tình cảm của đồng nghiệp với anh Toại in dấu trong tấm ảnh còn lại trong sách "Nghề báo-nợ đời-tình người" của Nhà xuất bản Thanh niên. Đó là bức ảnh anh Toại chụp cùng nhà báo Lê Đình Dư và Ngọc Nhu (anh Dư và anh Nhu sau đó đều hy sinh tại chiến trường, là liệt sĩ; nhà báo Lê Đình Dư được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân).
Anh Nguyễn Đức Toại tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Từ nhỏ đã có tâm hồn lãng mạn, nên lúc còn vị thành niên, anh có câu thơ khá hay, sáng tác trên một hòn đảo nhỏ, đẹp nhất miền Trung: "Đêm ngày nghe sóng vỗ/ Nước mắt tràn đại dương". Anh đọc cho tôi nghe rồi quên luôn. Sau này tôi nhắc lại và vị sư trụ trì trên hòn đảo nọ đã khắc câu thơ vào vách đá trên đảo.
* * *
Khi tuổi đã xế chiều, chuẩn bị nghỉ hưu, vợ chồng anh Toại quyết định "hạ cánh" ở TP Hồ Chí Minh bởi một lý do đơn giản: Có chị gái ở đó. Lúc ấy, tôi đang là “phó” cho anh Vũ Linh, Trưởng cơ quan đại diện. Biết anh Toại có nhiều bạn bè, đồng đội ở thành phố mang tên Bác, anh Vũ Linh bàn bạc, sắp xếp cho gia đình anh Toại ở tạm căn phòng rộng rãi trên lầu 2 trước khi anh có nhà riêng. Tuy nhiên, vợ chồng anh Toại năn nỉ xin ở "chuồng cu" trên sân thượng để đỡ ảnh hưởng tới tập thể.
Có thể nói, Tổ quốc ta có một thế hệ vàng tiêu biểu. Ấy là lớp người lên đường từ trước và trong dịp mùa Thu Tháng Tám năm 1945, trong đó có nhà báo, "cây viết điển hình", “vua đặt tít” Nguyễn Đức Toại. Nhận được tin báo anh Toại mãi đi xa, tôi và các đồng nghiệp, đồng đội cũ của anh vô cùng tiếc nhớ!
TP Hồ Chí Minh, chiều 16-8-2021
PHẠM ĐÌNH TRỌNG