Từ biệt gia đình thân yêu trong thời nước mất nhà tan, tôi đã tưởng đời mình sẽ chỉ toàn đắng cay trong hoàn cảnh giăng giăng cạm bẫy lao tù như lời thơ Tố Hữu “Từ thuở quăng thân vào gió bụi...”. Nhưng trong cuộc sống bụi lầm, tôi đã nhận được biết bao tình thương yêu đùm bọc của đồng chí, đồng bào. Họ cực khổ lắm, song cứ mỗi lần gặp nhau lại như nhận được nguồn sống đang về. Chúng tôi xoắn xuýt thăm hỏi tin đồng chí, đồng bào cơ sở, chia sẻ cho nhau từng tấm bánh, vốc ngô. Nghe tin hàng ngàn đảng viên, hàng vạn hội viên các tổ chức bị chém giết tù đày mà thắt ruột, mồm đắng lại... Sau những cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Đô Lương, Nam Kỳ bị thất bại, bọn phản động ở Đông Dương nhân đà hè nhau khủng bố rất dã man. Tổ chức Đảng và các đoàn thể hầu như rệu rã cả, số ít còn lại hoạt động rất khó khăn. Nhiều nơi mất liên lạc dài ngày, khi đồng chí quan hệ với nhau cũng vô cùng thận trọng...
Lúc này Trung ương Đảng đứng ở phía Nam đã bị bắt trong quá trình diễn ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Chúng tôi liên tiếp được tin nơi này, nơi kia bị khủng bố. Cán bộ và cơ sở cách mạng bị bắt khá lớn. Địch tra tấn hết sức man rợ, các đồng chí đều rất kiên cường không thèm van xin, có người đã anh dũng hy sinh... Tình thế vô cùng quyết liệt, hiểm nguy...
Đột nhiên được tin mật “lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước”... Đầu năm 1941, Trung ương lâm thời thành lập lại ở Bắc kỳ. Thường vụ có ba người, gồm các anh: Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ và Trường Chinh làm Tổng bí thư. Ngày 19-5-1941, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam cách mệnh đồng minh gọi tắt là Việt Minh. Những người cộng sản còn lại bất chấp hiểm nguy, chắp nối liên lạc với nhau, tập hợp các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, khôi phục các tổ chức biến tướng công khai chấn hưng phong trào chống thực dân xâm lược... Thời đó các cuộc hội họp phải đặc biệt coi trọng nguyên tắc bảo mật. Họp ở đâu, phải giữ kín địa điểm, cắt người canh gác, đặt mấy vọng gác truyền tin. Vậy mà mật thám vẫn lùng ra cơ sở cách mạng, săn bắt người như vồ ếch. Nhưng do tinh thần cảnh giác, được quần chúng kiên trung bảo vệ nên phần lớn các đồng chí chỉ bị bắt hụt.
Cơ sở Đảng dần được khôi phục, Trung ương điều tôi phụ trách phong trào Hà Đông. Đây là một tỉnh đồng bằng đông dân nhất thời đó. Đến giữa năm 1942, tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng phát triển tương đối khá. Một hôm, đồng chí Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang) tới nhủ:
- Phi này! (Bí danh tôi hồi đó), cần phát triển tổ chức, đẩy nhanh phong trào vùng giáp ranh hai tỉnh Hà Đông và Hà Nam để biến thành vùng căn cứ an toàn.
- Khi nào! - Tôi nhìn anh hỏi- Có cuộc trao đổi phối hợp với ai chứ?
- Sẽ có cuộc hội ý giữa anh và Minh phụ trách Nam Hà để bàn việc này.
Chúng tôi định ngày gặp nhau tại nhà cụ Hoàng Văn Duyệt ở làng Yên Trường, huyện Chương Mỹ trong vùng giáp ranh hai tỉnh. Nơi đây có chi bộ mạnh, nhiều cán bộ trung kiên, cơ sở quần chúng khá đông. Các làng xung quanh cũng đều có tổ chức cứu quốc.
Vào một buổi chiều muộn, các anh Hạ Bá Cang, Trần Tử Bình (tức Minh) đến. Trời còn tiết thu, đang lên cơn “rét rừng”, tôi đắp chiếc chăn bông dày mà người vẫn run cầm cập, không sao gượng dậy để tiếp, chỉ hơi nhỏm người thò tay nắm lấy nhau. Cả hai ngồi xuống cạnh giường, đặt tay lên chăn, thấy tôi cứ run bắn lên. Họ liền thay nhau nằm ôm chặt tôi, rồi mọi người nhờ gia đình tìm thuốc lá hạ sốt... Sau vài giờ dứt cơn rét, miệng đắng ngắt, người mệt bã. Bà cụ chủ nhà bưng đến tôi bát cháo nóng, ăn xong tôi tỉnh người, xin các anh cho làm việc. Trần Tử Bình ấn tôi nằm xuống, giọng ôn tồn:
- Đừng vẽ thế, anh đương mệt mà. Cụ Quận có ý kiến với chúng ta đây.
Anh Hạ Bá Cang lúc này lại mang bí danh mới. Nhìn anh đã lớn tuổi, hóa trang thành ông già cũ kỹ thật xứng với “chức” cụ. Còn anh Trần Tử Bình quả như ông đồ nho mặc áo the dài cổ đã sờn, đầu đội khăn xếp.
Chúng tôi thì thầm bàn cách thực hiện chủ trương, càng quyết tâm dứt điểm chuẩn bị đúng hẹn cho kịp thời cơ. Công việc đang xúc tiến khá thuận, thì cuối năm 1942, Thường vụ Trung ương điều tôi ra phụ trách phong trào Hà Nội, thay đồng chí Bí thư đi nhận công tác khác. Có lẽ vì tôi đã có thời học ở Hà Nội và hoạt động phong trào thanh niên dân chủ! Nhưng thực tế lúc này, các tổ chức quần chúng cách mạng liên tục bị vỡ. Cứ mấy tháng lại phải lập ban lãnh đạo Thành ủy mới. Về Hà Nội, các đồng chí không dám bố trí tôi ở đâu. Tôi đành phải đội lốt “thằng quýt” đi ở cho một gia đình ở phố Hàng Bông (gần nhà ông Dương Quảng Hàm) để hoạt động. Vài tháng sau, gặp người cùng làng làm thợ sơn, tôi xin ở nhờ, cho dễ dàng đi lại... Phong trào vừa hồi phục thì giữa tháng 4-1943, bị mật vụ chỉ điểm, cả ba người trong Thành ủy đều bị bắt. Dù nó khảo tra thế nào cũng chẳng ai xưng. Anh Chuẩn Muỗi (tức Vũ Kỳ, sau này làâ thư ký riêng của Bác Hồ), Thành ủy viên, được thả. Nhưng chỉ ba tháng sau, Vũ Kỳ lại bị bắt cùng lúc với anh Hoàng Văn Thụ. Khoảng tháng 9-1943, anh Phan Trọng Tuệ bị chúng giải vào Hỏa Lò. Tôi tìm cách lại gần, lén hỏi: “Bị ở đâu?”. Anh nói: “Hà Nam”- “Minh có sao không?. Anh lắc đầu: “Chạy thoát”. Tôi mừng rơn “Thế là phong trào vẫn còn”... Nhưng rồi cuối năm, Trần Tử Bình cũng bị bắt. Nó tra khảo cực hình, anh cứ trơ ra, khiến những tên đồ tể cũng phải lè lưỡi bảo nhau “sợ cái gan cộng sản đó!”.
Tù chính trị phạm ở Hỏa Lò ngày càng tăng lên, song bọn phòng nhì chẳng moi được gì, chúng không thể kết án, cũng không dám thả, bèn tìm cách phát vãng đến các vùng “ma thiêng nước độc” cho chết dần. Cuối năm 1943, hơn một chục tù “nguy hiểm” bị đày đi Côn Đảo, trong đó cóá các anh Phan Trọng Tuệ, Trần Văn An, Vũ Xuân Chiêm và tôi.
Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 bùng nổ. Những người tù Côn Đảo được biết qua sự chộn rộn của địch. Trung tuần tháng 9, lệnh Ban khởi nghĩa Nam Bộ gởi ra đảo bắt phải trả tự do ngay cho tù nhân. Ngày 20-9, chiếc tàu Phú Quốc và gần 30 ghe buồm ra đảo đón gần 2.000 tù chính trị và thường phạm về đất liền. Tuy mắc bão giữa biển, nhưng ngày 22-9, chúng tôi cũng vào được cửa Mỹ Thanh thuộc Sóc Trăng, nằm phía nam Soài Rạp khoảng 70-80 km.
Mới yên chỗ, ngay đêm 23-9, Xứ ủy thông báo giặc Pháp đã nổ súng gây hấn ở Sài Gòn. Thậåt may, nếu chậm mấy ngày, chắc đoàn tàu Côn Đảo không được giải phóng. Ban lãnh đạo tù chính trị Côn Đảo liền họp toàn thể nghe phổ biến, hạ quyết tâm. Anh Ba Duẩn, Bác Tôn cùng nhiều đồng chí và tôi được phân công lãnh đạo chiến đấu ở các chiến trường Nam Bộ, chỉ một số đồng chí ra miền Trung.
Tôi đang hoạt động ở vùng hậu địch, tháng 1-1950 được Trung ương triệu tập ra dự “Hội nghị cán bộ toàn quốc” của Đảng. Đến hội nghị tôi gặp lại các anh Lê Duẩn, Hạ Bá Cang, Trường Chinh, Bác Tôn, Phan Trọng Tuệ, Vũ Kỳ, Vũ Xuân Chiêm... Mừng quá, cầm tay nhau muốn khóc. Bất ngờ, tôi lại cùng một tổ nghiên cứu với Trần Tử Bình. Hai anh em ôm chầm lấy nhau, bồi hồi “thoắt cái đã tám năm rồâi. Tù đày, bom đạn vẫn không sao”. Qua trò chuyện, tôi mới rõ cuộc đời chiến đấu của Trần Tử Bình cũng mấy lần vào sống ra chết. Đảng, Nhà nước đánh giá rất cao chiến công của anh, đã phong cấp tướng cho anh từ những năm đầu kháng chiến.
Đến hôm nay, đã qua sáu năm đầu của thiên niên kỷ mới. Trần Tử Bình cùng nhiều anh về với tiên tổ lâu rồi. Nhưng cứ mỗi lần đến ngày kỷ niệm của đất nước, của Đảng, của Quân đội... lại gợi trong tôi nhớ thương vô hạn các anh em, những “chiến binh” một thời trong đêm đen mờ mịt, máu lửa chiến tranh đã dâng hiến trọn vẹn cho đời.