QĐND - Trong 36 năm qua, đôi bàn chân của một người đàn ông đã in dấu lên hơn 200 nghĩa trang liệt sĩ, từ Quảng Trị đến Cà Mau. Sau mỗi chuyến đi, ông lại ghi chép về những nội dung liên quan đến thông tin liệt sĩ được khắc trên bia mộ rồi gửi về quê quán, gia đình liệt sĩ. Đến nay, đã có hơn 20.000 lá thư được ông gửi đi...

“Sống” ở nghĩa trang

Nghe tin ông ghé qua nhà, chúng tôi tức tốc về vùng ven thị trấn huyện miền núi Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) để được gặp Cựu chiến binh (CCB) Đào Thiện Sính - người chuyên viết và gửi thư báo tin mộ liệt sĩ. Gặp ông trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ, tài sản lớn nhất chỉ là chiếc tủ đứng và bàn làm việc với ngổn ngang giấy tờ, bì thư... Nhận ra khách quen, ông chân thành:

- Trưa nay anh em ở lại ăn cơm với tôi. Gia đình đã chuẩn bị cả rồi. Về vội là khó gặp lại nhau lắm. Chiều tôi đi, vài tháng nữa mới về.

Quả đúng như vậy thật, gặp ông Sính không phải chuyện đơn giản. Bởi phần lớn thời gian ông gắn bó với những chuyến đi và phần nhiều cuộc đời ông ăn, ngủ ở các nghĩa trang liệt sĩ. Hành trang ông mang theo là bộ chăn màn, cái võng, đôi dép cũ, chiếc mũ tai bèo, một ba lô gồm bếp ga, nồi nhôm, vài gói mì ăn liền, chai nước… Khi đến nghĩa trang liệt sĩ, ông xin quản trang được ở nhờ, rồi tự túc nấu nướng, ăn uống chiếu lệ. Có những nghĩa trang không nơi ăn nghỉ, ông đặt lưng nằm kề đồng đội. Nhiều đêm không ngủ được hoặc sực nhớ đến thông tin gì đó quan trọng, ông lại cầm đèn pin dò dẫm khắp các bia mộ như một “gã” tâm thần...

CCB Đào Thiện Sính và thân nhân liệt sĩ Tạ Mai Huyền tại Nghĩa trang liệt sĩ Rừng Sác (huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh).

Ông Sính sinh năm 1947, quê ở xã Ninh Hải (Ninh Giang, Hải Dương) nhưng lại định cư ở đất Khánh Hòa. Thoạt đầu, ông theo công việc này là vì thực hiện nguyện ước của mẹ, phải tìm bằng được phần mộ người anh trai - liệt sĩ Đào Chí Nguyện. Ông đã cất công nhiều lần, tìm kiếm khắp các nghĩa trang Tây Ninh, nơi anh trai ông ngã xuống. Vậy mà sự kiếm tìm bao năm qua vẫn chỉ là vô vọng. Không tìm được phần mộ anh trai, nỗi đau trong ông như nhân lên gấp bội. Cũng là người lính, từng hai lần khoác ba lô lên đường đi chiến đấu, ông thêm thấu hiểu nỗi đau của các gia đình khi mất đi người thân. Bởi thế, mỗi lần đến một nghĩa trang, ông lại trào dâng niềm trăn trở: “Ở những nơi này, hàng nghìn, hàng vạn liệt sĩ “sinh Bắc tử Nam” đã có tên có tuổi, có cả quê quán hẳn hoi, nhưng người thân của các anh lại không hề hay biết con em mình đang nằm ở phương trời nào trong cái khái niệm “mặt trận phía Nam” mông lung. Tại sao mình lại không thông báo cho họ?”.

Từ năm 1976, ông khăn gói bắt đầu “cái nghiệp” của mình. Thời gian còn công tác, cứ nghỉ phép là ông lại đi. Đến khi nghỉ hưu, hành trình của ông thêm dài hơn. Mỗi năm ông đi vài chuyến, mỗi chuyến dài cả tháng hoặc vài tháng. Hơn 200 nghĩa trang từ Quảng Trị vào Cà Mau, ông đã đặt chân đến. Ở những nghĩa trang đã qua, ông cẩn thận ghi chép đầy đủ họ tên, tuổi, quê quán, thông tin liên quan đến liệt sĩ được ghi trên bia mộ rồi gửi thư đến tận gia đình, chính quyền địa phương xã, huyện là quê quán của liệt sĩ. Cứ thế, công việc thầm lặng ấy lại làm ông đam mê, như có một động lực vô hình thúc giục từ bên trong, như thể đó là định mệnh. Vậy là ông cứ đi, gắn bó phần đời với các nghĩa trang, những nấm mộ liệt sĩ.

20.000 lá thư gửi từ... cái tâm

Mới đây, sau chuyến “công tác”, ông Sính lại bàn giao thêm 2000 lá thư cho Hội CCB Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), nâng số thư ông gửi đi lên con số hơn 20.000 lá. Tôi ấn tượng nhưng tò mò:

- Làm sao ông có thể nhớ đến con số vài chục nghìn lá thư như vậy?

Ông thật thà:

- Con số trên là do Bưu điện huyện Khánh Vĩnh cung cấp chứ tôi cũng không có điều kiện thống kê.

Ông Hà Teng, Chủ tịch Hội CCB huyện Khánh Vĩnh, người thường xuyên quan tâm theo dõi, ủng hộ việc làm của ông Sính, cùng nhẩm tính những lá thư hồi âm. Theo ông Teng, đến nay có hơn 30% số thư gửi đi, giúp thân nhân liệt sĩ biết chính xác về thông tin liệt sĩ. Nhờ những lá thư ấy, nhiều gia đình đã tìm được phần mộ liệt sĩ.

Để làm được công việc tưởng không thể ấy, ngày nào ông Sính cũng phải cần mẫn, cặm cụi ngồi viết thư. Đến mỗi nghĩa trang, ông phải căng óc suy luận, tìm đọc, tra cứu về địa giới hành chính địa phương là quê quán của liệt sĩ. Chẳng hạn như trường hợp liệt sĩ Nguyễn Đăng Kiểm ở Phú Thọ. Ông đã phải viết đến mấy chục bức thư gửi đi khắp các huyện, xã có chi tiết liên quan đến địa danh ghi trên bia mộ. Cuối cùng một trong số những bức thư đó đã tìm được chủ, giúp gia đình liệt sĩ tìm ra hài cốt thân nhân. Hay trường hợp liệt sĩ Phạm Văn Chạc ở Yên Mỹ (Hưng Yên) lại ghi trên mộ là Phan Văn Thạc; liệt sĩ Nguyễn Văn On đi bộ đội ở Quân khu 9, lại được an táng ở nghĩa trang Lộc Ninh (Bình Phước - thuộc Quân khu 7)… Những sai sót thông tin trên bia mộ như vậy, khiến các gia đình dù cất công tìm kiếm mấy chục năm qua vẫn không có kết quả. Thế rồi nhận thư ông Sính, họ đã tìm ra phần mộ người thân của mình.

Không chỉ gửi thư qua đường bưu điện, ông Sính còn là người “chuyên” cung cấp thông tin mộ liệt sĩ qua điện thoại. Cuộc trò chuyện của chúng tôi với ông liên tục bị ngắt quãng bởi hàng chục cuộc điện thoại cần đến ông. Người thì hỏi thêm về các địa danh ghi trong thư, người thì hỏi đường đi đến nơi người thân họ đang nằm, lại có cả tiếng thút thít cùng sự bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với ông… Thậm chí, có những gia đình do điều kiện kinh tế khó khăn chưa thể đến, biết ông chuẩn bị vào nghĩa trang có thân nhân đang yên nghỉ, họ điện nhờ ông thắp nén hương cho người thân. Bởi thế, có ngày đỉnh điểm, ông Sính phải nghe đến 400-500 cuộc điện thoại, nhưng ông không từ chối bất kỳ một cuộc gọi đến nào.

Lời hứa với đồng đội

Khi chúng tôi hỏi về nguồn kinh phí đi lại, tiền ăn ở, mua bì thư, tem thư…, ông trầm ngâm, rồi mỉm cười:

- Lúc đầu, tôi tự tay làm phong bì và chỉ mua tem, về sau nhiều người nhận thấy việc tôi làm có ích nên ủng hộ, giúp đỡ một phần. Đặc biệt từ 10 năm trở lại đây, ngành Bưu chính giúp chuyển thư báo tin liệt sĩ miễn phí, còn bì thư có 3 người đồng đội ở TP Hồ Chí Minh tài trợ. Hơn 10 nghìn điểm bưu điện văn hóa cấp xã cũng sẵn sàng giúp tôi xác minh những địa chỉ cần làm rõ. Tôi hạnh phúc nhất là được vợ và 4 đứa con (2 trai, 2 gái) ủng hộ hết mình. Hơn 2 triệu đồng tiền lương hưu dùng hết vào việc đi lại, thiếu thì các con gửi cho thêm. Việc ăn, ở lại càng đơn giản, gần 70 tuổi rồi ăn mấy đâu: Mì ăn liền, tô bún thế là xong.

Công việc của ông vừa tốn công sức, lại tốn cả kinh phí cá nhân, vậy mà ông Sính khẳng định, ông được lợi rất nhiều. Trong đó, hạnh phúc hơn cả là khi ông nhận được tình cảm của thân nhân liệt sĩ, đồng chí đồng đội và cả những người ông chưa hề quen biết. Ông nhớ mãi kỷ niệm về gia đình liệt sĩ Hoàng Sơn Tùng ở Văn Chấn (Yên Bái). Gia đình liệt sĩ này là người Tày, điều kiện kinh tế hết sức khó khăn. Để đưa mộ người thân về quê, cả dòng họ đã phải quyên góp tiền. Bấy giờ, ông Sính đang ở Long An, nhưng gia đình liệt sĩ gọi mời thật nhiều, ông phải tức tốc bắt xe lên Biên Hòa (Đồng Nai) để họ gặp mặt và có lời cảm ơn. Món quà ông được biếu là hai quả cam tươi mang vào từ tận ngoài Bắc và những giọt nước mắt nghĩa tình… Ông bảo, chẳng có hạnh phúc nào nhiều hơn thế!

Cũng theo lời ông, trên bước đường kiếm tìm đồng đội, ông luôn nhận được sự đồng hành, giúp đỡ của quần chúng nhân dân. Có lần, ông đến Long An, ăn trưa ở một quán bình dân ven đường. Ăn xong ông hỏi gửi tiền, cô chủ quán mau miệng: “Bác có phải là người đi tìm mộ liệt sĩ được chiếu trên ti vi không? Cháu xin được biếu bác bữa cơm này”. Lần khác, có người phụ nữ đi cùng chuyến tàu vào Nam, tự dưng đến để vào túi ông 1 triệu đồng rồi bảo: “Anh cầm chi tiêu thêm cho việc tìm kiếm liệt sĩ”. Và rồi không biết bao nhiêu anh xe ôm song hành cùng ông trên những chặng đường xa, gập ghềnh giữa rừng thiêng nước độc mà không lấy tiền công; biết bao ngôi nhà của người dân trên khắp chiến trường xưa tặng ông những bữa cơm nóng, nhường cho ông nơi ngủ nghỉ... Tất cả những nghĩa cử ấy như tiếp sức, nâng bước ông trên những dặm dài kiếm tìm đồng đội.

Sau câu chuyện suốt buổi trưa, đầu giờ chiều ông Sính lại lên đường thực hiện nhiệm vụ của người đưa thư cho liệt sĩ...

Bài và ảnh: TẤN TUÂN-CÔNG THI