Tháng 6-1946, trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua thăm nước Pháp, Người đã tin cậy giao phó chức quyền Chủ tịch nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng với lời căn dặn: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đây là câu nói nổi tiếng của Bác trong những ngày đất nước còn trong trứng nước.
Dù tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã mang hết nhiệt tâm tranh đấu để giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc trước ngoại bang, ổn định chính trị...
Cụ Huỳnh Thúc Kháng có tên thật là Huỳnh Văn Trước, quê Thăng Bình, Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nho học. Cụ đỗ đầu trong các cuộc thi Hương 1890 rồi thi Hội 1904, là một trong tứ hổ của đất Quảng Nam nhưng không ra làm quan bởi nước đã mất, quan lại triều đình ươn hèn. Huỳnh Thúc Kháng đã sớm gặp các chí sĩ yêu nước như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp... cùng tham gia các phong trào Duy Tân, chống thuế, đi phu, bắt lính nhưng đều bị đàn áp dã man. Trần Quý Cáp bị ra pháp trường, Phan Châu Trinh sang Pháp đi tìm một phương sách cứu nước mới. Còn Huỳnh Thúc Kháng bị đày ra Côn Đảo 13 năm (1908-1921).
Năm 1925 lịch sử đất nước đã chứng kiến những biến đổi quan trọng. Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Quảng Châu (Trung Quốc), lập ra Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được ra tù và tham gia vào các cuộc vận động bầu Viện dân biểu ở Trung Kỳ, được làm Viện trưởng, để đưa ra các điều khoản đòi sửa đổi điều luật, giảm thuế rượu, muối, phổ cập chữ quốc ngữ... nhưng bị thực dân Pháp thẳng tay bác bỏ.
Rời chính trường, cụ Huỳnh Thúc Kháng thành lập tờ báo “Tiếng dân” xuất bản tại Huế làm diễn đàn tiếp tục đòi quyền dân chủ trên báo chí. Với 1766 số báo “Tiếng dân”, Huỳnh Thúc Kháng với nhiều bút danh đã viết hàng ngàn bài báo để thể hiện chính kiến của mình. Tờ báo “Tiếng dân” đã “nuôi đốm lửa nhiệt thành ái quốc của các nhà tiên thời trong đốm tàn không thể dứt mất”.
Với lòng yêu nước, khát khao độc lập tự do cho dân tộc, cụ Huỳnh đã dần dần thức tỉnh và nhận ra con đường tất yếu để cứu nước.
Cách mạng Tháng Tám thành công, được hít thở không khí của tự do dân chủ, cụ Huỳnh đã thốt lên:
Sướng ơi là sướng! Thoát thân nô
mà làm chủ nhân ông
Vui thật là vui! Đổi quyền vua mà
làm dân quốc mới
Khi Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim mời cụ Huỳnh ra hợp tác với quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại nhưng cụ đã khước từ và sau Cách mạng Tháng Tám thành công cụ ra Thủ đô Hà Nội theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với ý định: “Chỉ bày tỏ một vài ý kiến”. Nhưng cụ Huỳnh đã hoàn toàn bị thuyết phục ở lại cộng tác với nhà nước cách mạng không chỉ vì uy tín cá nhân của Bác Hồ mà còn ở đường lối chính trị đại nghĩa và dân tộc của Người.
Những đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong cuộc điều hành đất nước, cộng tác chặt chẽ với những người cộng sản và tất cả các lực lượng yêu nước trong nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao: “Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh, quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng có nhiều tiến bộ”.
Tháng 11-1946, trước nguy cơ cuộc chiến tranh đến gần, cụ Huỳnh Thúc Kháng lại không quản tuổi già, sức yếu, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến). Cụ thay mặt Chính phủ, Trung ương đi kinh lý miền Trung, viết thư kêu gọi đồng bào, phụ lão kháng chiến, kết chặt một khối, quyết sống mái với kẻ thù. Nhưng đến Quảng Ngãi, cụ Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng. Cụ gửi điện: “Kêu gọi anh em các đảng phái tôn giáo hãy đặt hết lòng tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng dân tộc”. Riêng với Bác Hồ, cụ viết: “Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc”.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21-4-1947 tại Quảng Ngãi. Cả nước để tang cụ giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra ác liệt. Vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới toàn thể đồng bào nêu gương “cả đời cụ Huỳnh không màng danh vị, không cầu lộc lợi, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập...”.
Lời đánh giá chân tình và chuẩn xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cụ Huỳnh Thúc Kháng chính là tượng đài muôn thuở tôn vinh một nhà yêu nước chân chính. Tấm gương ấy mãi mãi lưu danh với mọi thế hệ.
Tấm gương yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh Thúc Kháng cho ta một cái nhìn về một nhân cách trí thức biết vượt lên những hạn chế về nhận thức, mặc cảm về chính trị, một khi biết đặt quyền lợi dân tộc và Tổ quốc lên trên hết thì trước sau cũng sẽ đến với sự nghiệp cách mạng chân chính do Đảng tiên phong và Bác Hồ vĩ đại lãnh đạo, để đi đến mục đích cuối cùng hôm nay.
NGUYỄN HỒNG HÀ