 |
| Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng trò chuyện với các điển hình phụ nữ tài năng thời kỳ Đổi mới. Ảnh: Internet |
Vừa qua, tại Hà Nội đã diễn ra lễ tuyên dương 261 điển hình phụ nữ tài năng thời kỳ đổi mới. Con số ấy dù không nhỏ nhưng nó chưa phải là tất cả những gì mà phụ nữ Việt Nam đã làm được, đã đóng góp cho sự phát triển của xã hội trong những năm qua. Trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, khoa học, chính trị, ở đâu cũng xuất hiện những tấm gương phụ nữ tiêu biểu, giỏi việc nước, đảm việc nhà, sáng tạo trong công việc, nhân hậu trong cuộc sống…
Liên hợp quốc đã từng đưa ra đánh giá Việt Nam là điểm sáng về ba mục tiêu thiên niên kỷ, trong đó có mục tiêu tiến tới bình đẳng giới (Việt Nam được xếp hạng khá trong khu vực về chỉ số phát triển giới với hạng 87/144). Xếp hạng đó được đánh giá qua tỷ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia vào các công việc quan trọng của đất nước. Theo số liệu năm 2005, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia chính quyền là 27,3% (cao nhất Đông Nam Á), có 7,31% phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội, 11,29% là nữ Bộ trưởng, 37% tỷ lệ phụ nữ trong số các trí thức có trình độ cao đẳng và đại học, 19,9% nữ tiến sĩ; những con số này hiện nay đã tăng cao hơn. Về mặt phân công lao động ở nước ta, tỷ lệ nữ tham gia lao động cao nhất trong khu vực châu Á, tới 83%, gần ngang bằng với nam giới (85%). Phụ nữ chiếm đến 48% lực lượng lao động toàn xã hội và là nguồn nhân lực dồi dào.
Tuy nhiên, bên cạnh những con số thống kê đáng mừng đó, vẫn còn những vấn đề về bình đẳng giới cần được nhìn nhận. Đó là vấn đề đào tạo, nâng cao chất lượng công việc và vấn nạn bạo hành trong gia đình đối với phụ nữ Việt Nam. Các thống kê mới công bố năm 2006 cho thấy, tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo nghề chỉ đạt 20,45%, bằng 30% so với nam giới. Trong sản xuất nông nghiệp, phụ nữ cũng ít được tham gia tập huấn kỹ thuật, vẫn còn tình trạng “nữ làm, nam học”. Do ít được đào tạo, trình độ tay nghề thấp, cơ hội việc làm hạn chế nên phụ nữ chiếm số đông trong các công việc lao động giản đơn, thiếu ổn định, thu nhập thấp, bấp bênh, đời sống khó khăn. Cũng theo các thống kê này thì trong những năm gần đây, nạn bạo hành gia đình có chiều hướng gia tăng. Điều đáng quan tâm là trong số các nạn nhân của bạo hành gia đình có tới 90% là phụ nữ: 30% số phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng, cưỡng bức bằng nhiều hình thức do người chồng gây ra; trong số này, có 15% số người bị đánh, khoảng 80% bị mắng chửi, hơn 70% bị bỏ mặc, gần 10% bị chồng cấm tham gia hoạt động xã hội là những con số đang gây nhức nhối với cộng đồng.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn nỗ lực cao nhất để tiến tới mục tiêu bình đẳng giới trong xã hội, mà sự ra đời của Luật bình đẳng giới tháng 11-2006 là kết quả đáng kể nhất. Trong các hoạt động thông tin tuyên truyền, các phương tiện truyền thông cũng luôn ủng hộ cho sự phát triển của sự bình đẳng giới.
Bác Hồ từng nói: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ là không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa…Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra Chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”.
Hiện nay, chúng ta đang tích cực hưởng ứng phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong đó việc giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng giới cũng là một vấn đề mà sinh thời Bác Hồ rất quan tâm. Vâng lời dạy của Người, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đang có những thay đổi không ngừng, trước hết là trong nhận thức về vai trò của phụ nữ. Tuy nhiên, trước hết, để công cuộc giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng giới đạt hiệu quả cao, mỗi người phụ nữ cần chủ động tự khẳng định vai trò của mình, tự “giải phóng” mình theo hướng tích cực như: tích cực tham gia công tác xã hội; vận động bình đẳng nam nữ ngay trong gia đình, trong cơ sở nơi mình sống; nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ chuyên môn; hạn chế lao động giản đơn, thủ công… Có như vậy, mục tiêu bình đẳng giới của Liên hợp quốc mới có thể trở thành sự thực ở Việt Nam trong thiên niên kỷ mới này.