QĐND - 1. Trong hồi ký “Theo con đường đã chọn”, nhà văn Như Phong đã dành những dòng thương mến viết về ông Ngô Lê Động trong buổi họp tổ Văn hóa Cứu quốc tại nhà ông ở 11 Hàng Đường: “Anh Động và tôi ngồi đợi trên một bộ bàn ghế gụ kiểu Tàu, kê ở phía trong, ngay sau cửa hàng. Anh ấy người bé nhỏ, ít nói, có vẻ hiền lành. Nhưng con người nhỏ bé ấy đã từng bền bỉ tham gia công tác từ hồi Mặt trận dân chủ không có lúc nào gián đoạn và sau này khi bắt đầu Toàn quốc kháng chiến chống Pháp, đã xung phong ở lại chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội và đã hy sinh ngay trong cái phố chôn rau cắt rốn của mình”.
Theo lời chỉ dẫn ấy, tôi đã lần tìm đến nhà 11 Hàng Đường. Và chủ nhân của ngôi nhà ấy là chị Ngô Thị Ngọc Hân, con gái út của Ngô Lê Động.
2. Những năm các tầng lớp nhân dân Hà Nội mít tinh, biểu tình, ra các tờ báo công khai, sôi sục đấu tranh đòi thực dân Pháp quyền dân sinh, dân chủ, hòa bình, thì căn nhà 11 Hàng Đường của vợ chồng ông Ngô Lê Động, có cửa sau thông sang Ngõ Gạch, Hàng Chiếu là một địa điểm liên lạc, hội họp, nơi cất giấu tài liệu bí mật của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ. Những bao trấu chồng lên, che lấp cửa, che mắt bọn mật thám: “Đồng chí Hoàng Văn Thụ, Phan Trọng Tuệ, Lê Hoàng và một số cán bộ Xứ ủy thường đến đây. Khi có động, bọn mật thám đang hoạnh họe ở cửa trước thì các đồng chí đã nhanh chóng ra cửa sau” - chị Ngô Thị Ngọc Hân nhớ lại những lần nghe mẹ kể những kỷ niệm về người cha thân yêu của mình.
 |
|
Ông Ngô Lê Động. Ảnh tư liệu.
|
Hiệu ảnh phố Tiên Sinh (nay là phố Hàng Gà) là trụ sở Ái hữu thợ ảnh. Toàn bộ tiền thuê nhà và các máy móc, dụng cụ của hiệu ảnh, ông Ngô Lê Động bỏ tiền nhà ra ủng hộ Đảng. Được Đảng tin cậy, tín nhiệm cử làm Bí thư của chi bộ thợ ảnh, ông đã gom góp tiền từ cửa hàng của gia đình ở 11 Hàng Đường, giúp Đảng có tài chính hoạt động, ra báo công khai bằng tiếng Pháp. “Vào khoảng năm 1938, chồng tôi được Đảng giao nhiệm vụ đứng tên, xin phép ra một tờ báo tiếng Pháp, lấy tên là Rassemblement (Tập hợp), ngoài ra còn tham gia xây dựng hai tờ báo khác là Le Travail (Lao động) và En Avant (Tiến lên)”. Những dòng mộc mạc mà năm 1973, bà Nguyễn Thị Đào viết về hoạt động của chồng mình khiến tôi rưng rưng khâm phục sự hy sinh lặng lẽ của vợ chồng bà cho cách mạng. Năm 1977, gia đình bà được Đảng, Chính phủ công nhận là gia đình có công với cách mạng.
Năm 1939, phong trào Mặt trận dân chủ ở Hà Nội thoái trào, ông Ngô Lê Động bị Pháp bắt. Không có chứng cứ rõ ràng, chúng giam ông trên Chi Nê (Hòa Bình), mãi đến năm 1943, ông mới được trả tự do. Trở về với đồng chí, với cách mạng, ông lại lao vào cuộc đấu tranh với tinh thần của người đảng viên cộng sản đã được rèn luyện, thử thách trong lao tù đế quốc. Nhà ông lại trở thành địa điểm liên lạc, hội họp của các ông Như Phong, Học Phi, Vũ Quốc Uy trong thời gian chuẩn bị thành lập Tổ Văn hóa Cứu quốc đầu tiên của Hội Văn hóa Cứu quốc. “Bốn chúng tôi ngồi họp ở ngay bộ bàn ghế gụ kê ở phía sau cửa hàng. Họp ở đấy thế mà an toàn. Tên mật thám ranh ma đến đâu cũng không thể ngờ được rằng, phía trong một cửa hiệu bán đường, mứt hiền lành như vậy mà lại có một cuộc họp bí mật”-ông Như Phong đã viết về cuộc họp đầu tiên nghe thư của đồng chí Trường Chinh gửi văn nghệ sĩ nói về bản Đề cương Văn hóa Việt Nam. Trong cuộc họp này, ông Học Phi phân công bốn người như sau: Ông Như Phong và Vũ Quốc Uy giữ đầu mối ở Hà Nội; ông Ngô Lê Động lo chạy vốn để tổ chức một nhà xuất bản riêng cho Hội; ông Học Phi làm liên lạc giữa Trung ương và Hội. Như vậy, Ngô Lê Động là một trong những người đầu tiên tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc, sau đó theo sự phân công của đảng, ông chuyển sang công tác khác.
3. Cách mạng Tháng Tám thành công, Ngô Lê Động được Đảng cử làm Bí thư khu bộ Việt Minh khu Đồng Xuân, sinh hoạt trong chi bộ khu, do ông Đỗ Tần làm Bí thư. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông làm Chính trị viên đại đội khu Đồng Xuân. Những CCB của Liên khu I vẫn nhớ dáng thư sinh, phong thái nhã nhặn, giản dị của người cán bộ chính trị và họ gọi ông theo tên gọi hằng ngày thân thiết: Anh Cát Động (ông còn có tên khác là Đặng Đình Cát). Trong những ngày chiến đấu khốc liệt, Ban chỉ huy tiểu đoàn đã lấy hầm của biệt thự Anh Hoa là ngôi nhà của cha ông-cụ Ngô Lê Cách-làm nơi sơ cứu thương binh tại chỗ. Tết Đinh Hợi (1947), ông Ngô Lê Động đã tạo điều kiện cho Ủy ban kháng chiến Liên khu I đón tiếp các đại diện Mỹ, Anh, Tưởng, Pháp tại biệt thự. Đồng chí Hoàng Phương, nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn Thủ Đô, người đã từng đóng vai phiên dịch tiếng Pháp cho Chủ tịch UBKC Liên khu I (do đồng chí Bùi Nguyễn Cát đóng vai Chủ tịch) trong buổi đón tiếp này, đã viết: “Ngôi biệt thự Anh Hoa nằm giữa hai mặt phố Ngõ Gạch-Hàng Chiếu và còn có lối sau thông ra phố Hàng Đường khá đẹp, vườn cây cảnh, hòn non bộ…”. Trong căn phòng sang trọng với nội thất cổ, bài trí trang nhã, có đủ đào Nhật Tân, lay ơn, cúc do các chị của đội giao thông liên lạc Trúc Lãng đưa vào cho Trung đoàn Thủ Đô vui Tết kháng chiến đầu tiên. Cảm phục trước sự đón tiếp trang trọng, lịch sự với tư thế của những con người chiến đấu dũng cảm và lạc quan yêu đời, các lãnh sự nước ngoài đã thốt lên những lời ca ngợi. Ông Su-li-van, lãnh sự Anh nói: “Kiên trì! Kiên trì! Các ông sẽ là người chiến thắng” và ông đã chuyển lời chúc sức khỏe tới Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đài Tiếng nói Việt Nam đã đưa tin về cuộc đón tiếp này. Thành ủy và Mặt trận Hà Nội gửi ngay lời khen ngợi Trung đoàn Thủ Đô.
Sau Tết, quân dân Liên khu I ngày càng bị địch siết chặt vòng vây. Địch tấn công dữ dội ở Xô-va, Trường Ke, Hàng Thiếc hòng tiêu diệt Trung đoàn Thủ Đô. Nhà cửa, phố phường tan hoang, cháy trụi, tường đổ… Ở khu Đồng Xuân, ngày 13-2-1947, đoán trước âm mưu của địch, ta đã chuẩn bị sẵn sàng trận địa cản phá cuộc tấn công mới. Bà Hoàng Thị Liên (tức Hoàng Yến) từng là cứu thương của khu Đồng Xuân, xúc động kể lại: “Ông Ngô Lê Động đến chốt số 2 Đồng Xuân động viên chúng tôi chiến đấu và nhắc lại thư của Bác gửi dịp Tết Đinh Hợi: Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Ngày 14-2-1947, Pháp ném bom, nã đại bác uy hiếp sở chỉ huy Tiểu đoàn 101, cán bộ hội ý chớp nhoáng thì bất thần, đạn súng cối dội xuống biệt thự Anh Hoa. Ông Ngô Lê Động, Chính trị viên đại đội và ông Nguyễn Hùng, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 101 hy sinh ngay tại biệt thự. “Lúc ấy tôi mới 2 tuổi, bà cụ bồng bế tôi đi tản cư ở Hà Tây. Lớn lên, nghe dì ruột tôi-bà Nguyễn Thị Liên-khi đó cũng là cứu thương của Trung đoàn Thủ Đô nói rằng, bà sang chùa Cầu Đông, xin được áo quan, chôn ngay cha tôi và ông Hùng trong lòng biệt thự. Năm 1947, Pháp chiếm thành phố, bắt dân mình đưa xác các chiến sĩ xuống vườn đền Hai Bà. Năm 1958, tôi theo mẹ đi tìm hài cốt cha. Bạt ngàn xương trắng dưới vườn đền. Rất may là dì tôi trực tiếp chôn cất cha tôi nên nhận ra được bao súng lục, thắt lưng da ông thường dùng và đặc biệt là chiếc răng khểnh không lẫn đi đâu được. Cha tôi và hài cốt các liệt sĩ tìm thấy năm đó đều được đưa về Nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch của thành phố”-Bà Ngô Thị Ngọc Hân kể lại những ký ức bi hùng thời ấy.
4. Đã 70 năm trôi qua giữa dòng phố xá tấp nập, ngôi nhà 11 Hàng Đường cũng như bao ngôi nhà khác của phố cổ, bán mứt, kẹo, ô mai. Nếu không có Ban liên lạc của Trung đoàn Thủ Đô, tôi cũng không biết được đây chính là ngôi nhà của một trong những người đã đóng góp nhiều công sức cho việc thành lập Hội Văn hóa Cứu quốc và hy sinh ngay tại ngôi nhà thân yêu của mình.
KIM THANH