In hoa vào chiếu bằng phẩm màu.

“- Nàng ở đâu ta bán chiếu gon

Hỏi xem chiếu bán hết hay còn

Xuân xanh chừng độ bao nhiêu

tuổi

Đã có chồng chưa được mấy con?

- Thiếp ở Tây hồ bán chiếu gon

Cớ chi ông hỏi hết hay còn

Xuân xanh chừng độ trăng tròn lẻ

Chồng còn chưa có hỏi chi con!”

...Khi ấy Nguyễn Trãi còn là Quan Hành khiển, đi qua vùng Tây hồ, gặp người con gái xinh đẹp tựa trăng rằm Nguyễn Thị Lộ quảy chiếu đi bán, ông đọc thơ; và cũng không ngờ, người con gái bán chiếu kia đối đáp lại bằng câu thơ ý tứ hay đến vậy! Nguyễn Trãi đem lòng yêu người con gái bán chiếu và nàng trở thành thiếp của ông. Nàng quê ở làng Hới, xã Hải Hồ, làng Hải An, Ngự Thiên, Hưng Nhân cũ (nay là xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).

1- Làng Hới như một bán đảo được ôm ấp bởi con sông Luộc đỏ nặng phù sa. Từ Hà Nội về đây, qua TP Thái Bình khoảng 150km, nếu từ Hà Nội đi qua tỉnh Hưng Yên chỉ chừng 70km. Tả Thị lang Thượng thư Phạm Đôn Lễ-người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đỗ Tam Nguyên, dẫn đầu đoàn sứ bộ sang nhà Minh, Trung Quốc, ông quan sát thấy cách thức dệt chiếu của người Trung Hoa; khi về nước, xin với vua cho mở nghề dệt chiếu ở quê, khi ông mất, dân làng lập đền thờ và gọi ông là “Trạng Chiếu”. Kể từ đó đến nay làng nghề truyền thống dệt chiếu đã có hơn 600 năm tuổi. Và cũng chính từ làng Hới, dân gian xưa có câu ca truyền đến tận bây giờ: “Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới”.

2- Chúng tôi gặp anh Nguyễn Quốc Thắng, Hội viên Hội làng nghề Việt Nam, gia đình anh dệt chiếu có tiếng trong làng nghề này, anh cho biết: “Dệt được một tấm chiếu hoàn chỉnh phải qua nhiều công đoạn. Trước hết là những sợi đay được “đánh” thành sợi. Xưa “đánh” bằng phương pháp thủ công, nay được “chạy” bằng mô tơ nên đỡ vất vả hơn. Rồi đến khâu chọn cói, cói phải được phân loại cho thật đều theo từng loại sợi to nhỏ khác nhau thì chiếu mới đều và đẹp”. Anh dẫn chúng tôi đến nơi sản xuất, mùi cói thơm ngai ngái, hai người một chiếc go dệt bằng gỗ, chiều ngang 1,75m với răng go làm bằng gốc tre đực già có căng sẵn những sợi đay. Những tấm chiếu được nắng có màu sáng, hoa in trên mặt chiếu đỏ tươi nhưng cũng đượm bao mồ hôi của người làm ra nó. Chiếu được đánh giá chất lượng thành 3 loại. Loại chiếu “dặm” thường được bán ra thị trường từ 30 đến 40 nghìn đồng/đôi, loại chiếu “đậu” thường (chất lượng trung bình khá) có giá 70-80 nghìn đồng/đôi. Loại đẹp nhất là chiếu “đậu” đặt giá từ 130 đến 200 nghìn đồng/đôi. Nếu hai người ngồi dệt miệt mài, thu nhập được khoảng 40-50 nghìn đồng/ngày.

Thời hiện đại có thêm nhiều sản phẩm chiếu: chiếu nhựa, chiếu trúc nhưng nhiều người nằm không quen vì những loại chiếu trên không thoáng, mà giường ga đệm chỉ nằm vào mùa đông. Chiếu Hới vẫn được dân dùng nhiều, xuất đi toàn quốc, chủ yếu từ miền Trung trở ra đến các tỉnh miền núi phía Bắc.

3- Qua câu chuyện với lão nghệ nhân Nguyễn Văn Cử, ông Nguyễn Văn Bình, anh Thắng cũng như nhiều người khác trong làng nghề, họ đều có cùng một trăn trở, ước vọng về cói nguyên liệu sản xuất. “Nói thật với chị, chúng tôi là người lao động, lấy công làm lãi thôi. Đay sợi thì không lo vì có thể thu mua được ngay tại địa phương, nhưng bây giờ khó khăn nhất là cói”-lão nghệ nhân Nguyễn Văn Cử cho hay. Tôi băn khoăn: “Cháu cứ tưởng quê mình trồng được cói”. Anh Thắng “chen ngang” xua tay: “Ồ, không cô ơi. Chúng tôi đau đầu nhất là cói nguyên liệu đấy! Đã lâu lắm rồi ở vùng Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thụy, Quỳnh Phụ cung cấp cói nguyên liệu cho làng tôi, đặc biệt mà “vớ” được cói Quỳnh Phụ để dệt chiếu “đậu” đặt thì đẹp và bền lắm! Sợi cói vùng Quỳnh Phụ nhỏ, tròn đều tăm tắp... trăm sợi như một. Đôi chiếu dùng có đến mấy chục năm chưa hỏng. Nhưng hiện nay những vùng trồng cói nguyên liệu trên không còn nữa, có chăng là cói khai thác lại, chẳng đáng là bao. Chúng tôi phải nhập cói tận trong miền Nam. Trước đây, có cói Nga Sơn, Thanh Hóa nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 5-10%, còn chủ yếu là cói Long An. Ông Bình phân trần: “Chúng tôi phải đi xa gần 2 nghìn cây số mới mua được cói, tiền xe cộ, ăn uống cộng cả vào lá chiếu nên giá thành đội lên”.

Theo con số thống kê của UBND xã thì số hộ dệt chiếu là 2.186 hộ, lao động chính trực tiếp dệt chiếu thành phẩm là 4.352 người, sản lượng một năm đạt hơn 36 nghìn lá chiếu với tổng thu nhập hơn 79 tỷ 649 triệu đồng. Một con số không nhỏ! Dân làng Hới sống chết bám lấy nghề truyền thống của cha ông để lại. Họ cùng một mong muốn có những vùng qui hoạch trồng cói ở các huyện trên để có cói nguyên liệu dệt chiếu vì ở đấy có vùng nước lợ, thổ nhưỡng rất hợp cho sự tăng trưởng của cây cói, chăm sóc rất dễ, chỉ cần bón phân đạm, lân là sẽ cho năng suất cao. “Cô ạ, không phải tôi làm nghề mà nói hay cho nghề của mình đâu, tôi chỉ tính thế này là ra ngay. Một sào thu được 7 tạ cói nguyên liệu, giá 8 triệu đồng, một héc-ta là có 200 triệu đồng rồi. Thái Bình có cánh đồng 50 triệu, làm gì bằng cói, tỉnh cũng chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, nhiều vùng có cánh đồng 50 triệu đó là mấy cánh đồng gần Vĩnh Bảo, Hải Phòng trồng thuốc lào hoặc trồng hoa ở Đông Hưng... Nhưng thực tế có phải lãi 50 triệu đâu, tiền gốc cũng mất mấy chục triệu rồi”.

Tôi được mọi người dẫn vào từ đường nhà ông Nguyễn Văn Phán, trưởng tộc họ Nguyễn của làng, cháu đời thứ hai mươi của Nguyễn Thị Lộ. Phía bên phải bàn thờ tổ là bàn thờ “vị rể” của làng-Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi và Lễ Nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, bên cạnh phía dưới là Bảng vàng ghi công các liệt sĩ họ Nguyễn đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Tôi chắp tay khấn, khói hương nghi ngút. Nếu quả thật có một thế giới khác của những âm hồn thì tôi tin rằng, người con gái xinh đẹp bán chiếu Nguyễn Thị Lộ sẽ đồng cảm, sẻ chia nỗi vất vả và ước vọng của dân làng nghề cả đời vì nghề chiếu...

Lúc sắp chia tay, một cụ già chống gậy nắm chặt tay tôi dặn: “Cô ơi, cô đi may mắn nhé! Nếu có lên tỉnh thì cô cho chúng tôi gửi nhời rằng, tỉnh xem xét để có vùng trồng cói nguyên liệu thì dân làng tôi được nhờ lắm, cô nhé!”.

Bài, ảnh: VƯƠNG THY