Quân dân ta phá đường bộ ngăn cản quân Pháp tiến lên Việt Bắc. Ảnh: tư liệu

LTS - Năm 1947, Bô-phrê (Baufré) chỉ huy cánh quân phía Đông từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, vòng xuống Bắc Kạn bắt liên lạc với binh đoàn nhảy dù Xô-va-nhắc (Sauvagnac) rồi tiến sang phía Tây hợp vây với binh đoàn đường thủy Com-muy-nan (Communal) ở Tuyên Quang, hình thành hai gọng kìm bao vây toàn bộ căn cứ địa Việt Bắc. Đây là cuộc hành binh Lê-a (Léa) nhằm chụp bắt chính phủ Hồ Chí Minh, tiêu diệt đội quân chủ lực còn non trẻ của ta, bóp chết cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Quân và dân ta trong năm đầu kháng chiến toàn quốc gặp nhiều khó khăn bỡ ngỡ, nhưng đã chuyển bị động thành chủ động, triển khai thế trận chiến tranh toàn dân, bảo vệ được căn cứ địa kháng chiến, đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến phát triển sang giai đoạn mới.

Sự kiện lịch sử quan trọng này trong hơn nửa thế kỷ qua đã được nhiều nhà khoa học, nhà báo, các nhân chứng lịch sử kể lại, phân tích, nghiên cứu cả ở phía ta và phía đối phương.

Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Việt Bắc, chúng tôi giới thiệu hồi ức của tướng Bô-phrê nhan đề “Giữa trung tâm khu cố thủ Việt-Cuộc hành binh Lê-a (1). Hồi ức có nhiều chi tiết lý thú. Các đầu đề nhỏ là của chúng tôi.

Ý đồ tấn công Việt Bắc của Pháp có từ bao giờ?

Bô-phrê kể: “Khi tôi đến Đông Dương vào tháng hai năm 1947, tướng Va-luy (Valluy) mà tôi đến trình diện tại Sài Gòn có nói với tôi về một “cuộc hành binh rất quan trọng” dự kiến sẽ tiến hành tại vùng cực bắc nhằm kiểm soát đường biên giới với Trung Quốc. Lúc đó tôi không ngờ rằng tôi sẽ có trách nhiệm đối với việc này.

Tại Hà Nội, nơi tôi được cử đến, tướng Sa-lăng (Salan) chỉ huy miền Bắc phái tôi đi hai cuộc kiểm tra và nghiên cứu: một ở xứ Thái theo dọc sông Đà lên Sơn La và Điện Biên Phủ, một ở vùng biên giới từ Tiên Yên đến Lạng Sơn. Khi tôi trở về, tướng Sa-lăng nói: Vào mùa khô, ta sẽ mở một cuộc tấn công trên phía Bắc, nhảy xuống chụp bắt chính phủ Việt Minh ở Bắc Kạn và tái kiểm soát đường biên giới với Trung Quốc. Việc liên lạc với Bắc Kạn sẽ khởi đầu từ Lạng Sơn tiến lên Cao Bằng rồi tạt về phía Tây xuống Bắc Kạn. Anh hãy suy nghĩ về cuộc hành binh này và gửi cho ta một dự thảo kế hoạch ngắn 2 trang. Đến đây tôi mới biết việc này trực tiếp liên quan đến tôi”.

Qua lời kể của Bô-phrê thì các tướng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã có ý đồ tấn công Việt Bắc từ tháng 2-1947. Đó là thời gian sau khi Trung đoàn Thủ Đô đã rút ra khỏi Hà Nội và Trung ương, Chính phủ đã “thiên đô” lên Việt Bắc. Điều này khác với ý kiến của Thiếu tướng Yrơ Gra (Yres Gras) trong sách Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương (Histoire la guerre ở Indochine) cho rằng Va-luy soạn thảo kế hoạch hành binh lớn lên Việt Bắc sau cuộc gặp gỡ bất thành giữa Pôn Muýt (Paul Mus) với Hồ Chí Minh. Cuộc gặp diễn ra tại thị xã Thái Nguyên đã tiêu thổ kháng chiến ngày 20-4-1947. Trong cuộc gặp này, Pôn Muýt, đặc phái viên của Cao ủy Bô La (Bo laert) đưa ra các điều kiện buộc ta phải hạ vũ khí. Bác Hồ đã thẳng thắn bác bỏ.

Ai là kẻ chủ mưu tấn công Việt Bắc?

Theo lời kể của Bô-phrê thì Va-luy là người nêu ra ý tưởng đánh lên Việt Bắc, còn Sa-lăng là người tổ chức thực hiện. Khác với ý kiến của Sa-lăng trong hồi ức “Việt Minh, địch thủ của tôi” (Việt Minh Mon adrersaire) khoe rằng “chính bản thân” đã có sáng kiến mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc. Theo một số tư liệu khác, Va-luy có ý kiến cho rằng muốn tái chiếm Việt Nam, phải “đập nát cái đầu” (ecraser la tête) và tiêu diệt “khu cố thủ Việt” (réduit Viet) nằm ở thượng du Bắc Bộ.

Cuộc hành binh mang mật danh Lê-a

Bô-phrê kể: “Kế hoạch tác chiến như sau: 3 tiểu đoàn dù do đại tá Xô-ra-nhắc (Sauvagnac) chỉ huy sẽ bất ngờ nhảy xuống Bắc Kạn, chợ Mới, chợ Chu là nơi mà Hồ Chí Minh đã di chuyển chính phủ lên đó. Để tiếp sức cho quân dù và rút họ ra chuẩn bị cho các hành động tiếp sau, phải xuất phát từ Lạng Sơn rồi tiến quân qua 300km trong vùng Việt Minh kiểm soát, đi theo một đường vòng cung trên một địa hình rừng núi và vượt qua ngọn đèo Lê-a (do đó mà đặt tên cho cuộc hành binh này) rồi quặt xuống phía Nam”.

Tại sao có cuộc nhảy dù xuống thị xã Cao Bằng?

Bô-phrê kể: “Các đội trinh sát đường không cho thấy đoạn 120km đầu tiên trên đường số 4 bị phá hoại nghiêm trọng (khoảng 130 điểm phá). Lại phải vượt sông Kỳ Cùng ở Thất Khê, sông rộng 100 mét mà cầu thì bị phá. Tuy nhiên ở Cao Bằng, cây cầu còn nguyên vẹn. Như vậy kế hoạch của tôi là cho một tiểu đoàn quân dù nhảy xuống Cao Bằng chiếm giữ cây cầu, mặt khác cho công binh nhanh chóng khắc phục những đoạn bị phá hoại để bộ binh có thể tiến đến Cao Bằng trong vòng ba đến bốn ngày rồi lên xe hành quân cơ giới trên đoạn đường 200km còn lại để đến Bắc Kạn, hội quân với Xô-va-nhắc (Sauragnau) trong vòng sáu bảy ngày. Để giữ yếu tố bất ngờ, các cuộc hành quân sẽ tiến hành ban đêm, còn ban ngày là sửa đường. Lực lượng có trong tay tôi là 4 tiểu đoàn dù, 3 tiểu đoàn lê dương, một tiểu đoàn lính Ma-rốc, một tiểu đoàn lính thuộc địa, một cụm pháo binh, một trung đoàn xe bọc thép (RICM). Ngoài ra, tôi tổ chức một lực lượng vận tải lừa ngựa khoảng một tiểu đoàn”.

Vụ rắc rối ở Bắc Kạn

Bô-phrê kể tiếp: “Ở Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Chu, các cuộc nhảy dù tiến hành hoàn hảo. Duy có một sự cố kỳ lạ xảy ra: Trên chiếc máy bay Catalina bay trên vùng trời chiến sự, một điện báo viên cộng sản (un radio commurista) phát đi một bức điện báo tin đã bắt được Hồ Chí Minh và yêu cầu ngừng bắn.

Tướng Sa-lăng vốn tính cẩn thận, yêu cầu kiểm tra. Vì chiến sự vẫn tiếp diễn, điện báo viên kia báo tin là tình hình Bắc Kạn nguy ngập và yêu cầu tăng viện. Sa-lăng lập tức điều tiểu đoàn dù của Phô Xây Phrăng-xoa (Foxey Francois) đáng lẽ… nhảy xuống chợ Chu, nay chuyển sang Bắc Kạn. Xô-va-nhắc (Sauragnac) rất ngạc nhiên khi thấy Phô-xây đến gặp, từ đó mới biết có chuyện rắc rối xảy ra”.

Đến đây có chú thích của Ban biên tập (NDLR) rằng: “Một ủy ban điều tra được thành lập đã bắt giữ kẻ tình nghi số 1 là Tan-guy thuộc hàng không hải quân, điện báo viên trên chiếc Catalina có chức năng tổng đài thông tin. Người ta (không thể xác định là anh ta có ác ý hay có ý định phản bội”.

Qua lời kể của Bô-phrê và chú thích nói trên, ta thấy phía Pháp đã tiến hành điều tra sự việc và cho đến nay vẫn chưa kết luận.

Về phía ta, ta biết rõ hôm ấy, bọn lính dù bắt được một ông già chững chạc, nói tiếng Pháp, yêu cầu chấm dứt ngay chiến tranh xâm lược. Đó là cụ Nguyễn Văn Tố, trưởng ban Thường trực Quốc hội. Khi biết không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng đã sát hại cụ dã man.

Về chiếc máy bay bị bắn rơi ở Cao Bằng

Bô-phrê viết: “Tại Cao Bằng, cuộc nhảy dù không suôn sẻ bởi vì chiếc máy bay đi đầu bị súng máy cao xạ Việt Minh bắn hạ”. Chiếc máy bay ấy là chiếc Funker 52 bị đại đội trợ chiến của Trung đoàn 74 bố trí trên đồi Thiên văn bắn rơi. Máy bay chở một số sĩ quan tham mưu của bộ chỉ huy Pháp đi thị sát chiến trường, trong đó có Lăm-be (Lambert) phó tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Pháp miền Bắc Đông Dương. Trong số tài liệu thu được từ trên máy bay có bản kế hoạch tiến công Việt Bắc kèm theo bản đồ. Ban chỉ huy trung đoàn 74 đã phái liên lạc viên Nguyễn Danh Lộc chạy bộ liên tục 4 ngày 3 đêm từ Cao Bằng về đến Định Hóa (Thái Nguyên) nộp tài liệu vô giá này lên Bộ Tổng tham mưu. Nắm được kế hoạch của địch, Bộ Tổng chỉ huy ta có thêm cơ sở vững chắc để điều hành cuộc phản công cho đến thắng lợi.

Nỗi buồn của tướng Bô-phrê

Sau cuộc tấn công Việt Bắc, Bô-phrê thuyên chuyển vào Nam Kỳ. Nhiều năm sau nghĩ lại, ông viết:

“Thành công tuyệt diệu của tôi ở Cao Bằng năm 1947 lúc đó ít được nói đến, không ngờ sau này để lại cái tên Cao Bằng gắn với kỷ niệm đáng buồn về một cuộc thất bại”.

Ý nói đến “Thảm họa Cao Bằng” (Le dé sastre de Cao Bằng) mà người Pháp đặt tên cho cuộc thảm bại trong chiến dịch Biên giới năm 1950. Trong chiến dịch này, quân ta đã tiêu diệt hai binh đoàn tinh nhuệ của Sác-tông (Charton) và Lơ-pa-giơ (Le Page), mở đầu cho giai đoạn phản công và tiến công tiến tới thắng lợi vĩ đại Điện Biên Phủ.

H.C sưu tầm

——————-

(1) Bài “Au coeur du réduit Viet-opé ratinon Léa” (Giữa trung tâm khu cố thủ Việt-Cuộc hành binh Léa) của tác giả Géné ral Baufré đăng trong sách Historia 24 horserie-Note guerre d’Indochine 1/ Lepiège (Lịch sử 24 số đặc biệt. Cuộc chiến tranh của chúng ta ở Đông Dương 1/ cái bẫy) của nhà sách Tallendier) (Librairia Tallendier) 1972.