 |
|
Ông bà Trần Thúc Tuân-Phạm Thị Thuận: “nghiệp quân giới” đã xe duyên! |
Sáng mùa thu đẹp trời, tôi đến phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới thăm ông Trần Thúc Tuân, “cây đại thụ” trong làng quân giới tỉnh Quảng Bình. Ông đang say sưa đọc tập hồi ký “Nửa thế kỷ sản xuất và sửa chữa vũ khí” do Ban liên lạc Quân giới Hà Nội gửi tặng.
Vào cái tuổi 88 “xưa nay hiếm” nhưng ông còn rất minh mẫn và hóm hỉnh. Bên bàn trà dưới giàn thiên lý tỏa hương nhè nhẹ, ông đọc cho tôi nghe mấy câu thơ của “ngành”: Quên sao được tháng năm rừng Việt Bắc / Tiếng máy reo trong tiếng gió ngàn / Trái tim người quân giới hướng về Nam / Súng đạn từng lô sẵn sàng xuất xưởng / Đây B40, đây mìn định hướng / Đạn cối, đạn con và đạn truyền đơn...
Giọng thơ sang sảng như trung niên, mái tóc bạc trắng như cước, ông dốc bầu tâm sự: 34 năm trong quân ngũ thì đã hơn 30 năm làm “nghề quân giới”. Kỷ niệm từ thuở xưa bỗng ùa về làm người lính già xúc động, ông rủ rỉ kể cho tôi nghe về quãng thời gian vất vả cực khổ khi dấn thân vào “nghề”.
Năm 1946, ông Trần Táo, quê ở Nghệ An vào làm xưởng quân giới cho bộ đội địa phương Quảng Bình. Nói là xưởng cho oai chứ chủ yếu có mấy cái lò rèn, khuôn đúc để làm giáo mác, mã tấu, lựu mìn. Súng đạn mới nghiên cứu tập làm. Sau một thời gian, xưởng đã chế được thuốc súng và tiến tới sản xuất mìn, lựu đạn cung cấp cho bộ đội. Không may trong khi sấy thuốc súng ở căn cứ Võ Ninh, thuốc bén lửa nổ tung và ông Trần Táo hy sinh. Có lẽ đây là người liệt sĩ đầu tiên của ngành quân giới Việt Nam. Xưởng quân giới Quảng Bình từ đó được mang tên “xưởng Trần Táo”.
Muốn sản xuất vũ khí phải học bài bản. Ông Trần Thúc Tuân đã từng thi đậu Trường Kỹ nghệ nên được tỉnh chọn ra Việt Bắc học. Lớp do kỹ sư Trần Đại Nghĩa hướng dẫn. Gần hết khóa học thì giặc Pháp nhảy dù xuống Chợ Đồn. Bị bao vây bốn phía, thầy và trò bình tĩnh gói sách vở, dụng cụ, thoát ra ngoài rừng. Đến địa điểm mới, kiểm tra lại dụng cụ đồ nghề thì cái thước lôgarit của thầy Nghĩa mang từ Pa-ri về đã rơi đâu mất. Thuở hàn vi, cái thước ấy quí như là “bảo bối”, làm tiêu chuẩn đo lường rất chính xác nên ai cũng tiếc đứt ruột. Một cậu học viên nói đùa:
- Thôi thì của Pháp trả lại cho quân Pháp, tiếc làm gì nữa!
Cả lớp cười vang khu rừng già. Những học viên ưu tú ấy sau này tỏa về các liên khu, có nhiều sáng tạo trong sản xuất vũ khí và cũng có người hy sinh trong những ngày đầu chế tạo đạn Ba-dô-ca, nhưng đã đem lại nhiều kinh nghiệm quí trong sản xuất và sửa chữa súng đạn.
Biết bà Thuận là “giai nhân” của thành Đồng Hới đã theo ông Tuân suốt hai cuộc kháng chiến gian khổ, tôi tò mò hỏi:
- Thế cụ bà và cụ ông quen nhau trong trường hợp nào ạ?
Ông nháy mắt cười hóm hỉnh rồi thư thả kể: “Tôi và bà ấy quen và ưng nhau cũng nhờ duyên nghề quân giới. Thời chống Pháp, nhu cầu vũ khí rất lớn trong khi vật tư dự trữ ngày càng cạn nên các xưởng thường rơi vào cảnh “đói nguyên liệu”. Rất may đã có nhân dân. Quân đội cần hàng tấn diêm tiêu làm thuốc súng thì phải có hàng nghìn tấn tro bếp chất thành núi. Trong đoàn dân công gánh tro về xưởng vũ khí, tôi phát hiện ra cô nàng gánh dẻo dai nhất là đồng hương, liền “tiếp cận” để tâm sự. Xong chiến dịch cung cấp 10 tấn tro bếp cho xưởng thì chúng tôi cũng đã tính chuyện… làm đám cưới!
Cô dân công Phạm Thị Thuận thương anh lính quân giới quanh năm ở núi rừng đã rời thị thành xin gia nhập quân đội để cùng chồng theo việc “đao cung”. Làm lính cấp dưỡng, qua làm quân trang, quân lương rồi lại trở về làm nuôi quân, cô không nề hà vất vả. Anh em trong đơn vị thường trêu đùa: Gái quân lương gặp chàng quân giới / Là lương khô cùng đạn cối đạn con. Khi lên chiến khu, khi về ở Phòng quân giới, vợ chồng người lính già ấy có 6 người con, 3 trai 3 gái đã trưởng thành. Hai anh con trai theo nghiệp bố là trung tá, kỹ sư Trần Anh Dũng công tác ở nhà máy Z133 và thượng tá, kỹ sư Trần Anh Khôi, nguyên chủ nhiệm Kỹ thuật đoàn C68, nay là chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Đồng Sơn - thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Bài và ảnh: Xuân Vui