 |
|
Greg Gianas |
Greg Gianas là một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam. Ông sinh năm 1946 tại Redmond Washington, nguyên là giáo viên trung học trước khi vào phục vụ trong quân đội Mỹ. Năm 1968, ông được điều động sang chiến trường miền Nam Việt Nam, làm trinh sát pháo binh ở mặt trận Trị Thiên. Sau năm 1973 trở về Mỹ, ông trở thành nhà văn và chủ một doanh nghiệp chuyên sản xuất đồ gia dụng và hàng thủ công mỹ nghệ bằng gỗ.
Năm 1998 ông trở lại Việt Nam để tìm hiểu về đất nước mà ông từng có những nhận thức sai lầm và có những hành động tội ác. Ngoài những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, đi thực tế… để chuẩn bị cho một cuốn sách, ông còn có nhiều hoạt động từ thiện giúp đỡ người nghèo và nạn nhân chiến tranh ở vùng miền tây tỉnh Thừa Thiên-Huế. Thời gian ở Hà Nội, ông được nhà giáo Trần Thị Thanh Liêm-giảng viên Trường đại học Ngoại ngữ Hà Nội, cùng con gái của bà, nhiệt tình giúp đỡ trong vai trò cầu nối các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, hướng dẫn và phiên dịch. Cuối năm 2008, vì điều kiện sức khỏe, không thực hiện được lời hứa trở lại thăm Việt Nam và sẽ tặng bà Liêm cuốn sách của mình viết về Việt Nam, Greg Gianas đã gửi cho bà Liêm một bức thư bày tỏ tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam anh hùng và nhân hậu. Nhân dịp kỷ niệm 34 năm Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975/30-4-2009), được sự đồng ý của Greg Gianas, nhà giáo Trần Thị Thanh Liêm đã gửi cho báo QĐND cuối tuần nguyên văn bức thư kể trên. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Chị Liêm kính mến!
Lòng tốt của chị đối với tôi 10 năm trước đây, năm 1998, tôi sẽ khắc ghi hằng ngày trong suốt phần đời còn lại của tôi.
Khi tôi nói “hằng ngày”, đây không phải là một sự cường điệu hay nói quá lên. Hằng ngày tôi ghi nhớ lòng tốt của chị và đặc biệt là những gì chị đã nói với tôi vào đêm đầu tiên tôi gặp chị và cháu Sơn, con gái của chị.
Tôi đã đến đất nước Việt Nam vào đầu năm 1968, đúng dịp Tết Mậu Thân, để “giúp” quân đội miền Nam Việt Nam chiến đấu chống lại những gì mà người Mỹ cho rằng: đây là một cuộc chiến tranh xâm lược của những người cộng sản đến từ Bắc Việt. Hồi ấy tâm hồn và cuộc sống của tôi chẳng khác nào một đứa trẻ con. Khi chính phủ của tôi gọi những người cộng sản là thảm họa, là những người đang có âm mưu tấn công và phá hủy Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, là tôi tin ngay. Sau khi được gửi tới tham chiến ở Việt Nam vào năm 1968, tôi đã gặp vấn đề rắc rối trong việc luôn tin vào bất cứ điều gì mà người lớn tuổi hay chính phủ Mỹ đã nói với tôi.
Khi tôi chiến đấu chống lại những người lính cộng sản ở Việt Nam, ngày cũng như đêm, tôi đã luôn có cảm giác sợ hãi những người lính dũng cảm nhất trong cuộc chiến tranh mà chúng tôi đã gây ra này. Tôi tôn trọng những người lính đối phương của tôi hơn bất cứ người nào tôi đã biết trên đất nước tôi. Những điều này là những cảm giác làm tôi đau đớn và xấu hổ. Trong tuần đầu tiên của tôi ở Việt Nam vào đầu tháng 2 năm 1968, tôi đã suy nghĩ và nhận ra rằng: nếu tôi được sinh ra ở Việt Nam, lúc đó tôi sẽ chiến đấu chống lại những người Mỹ (là tôi). Đây không phải là một ý nghĩ an ủi mà thực sự là tâm niệm mà tôi có từng ngày, từng đêm trong một cuộc chiến tranh.
Công việc của tôi lúc đó đòi hỏi tôi sử dụng pháo để tiêu diệt “kẻ thù”. Tôi đã đến Việt Nam để “cứu giúp” cho con người và đất đai ở miền Nam Việt Nam nhưng công việc của tôi thì ngược lại là đã phá hoại đất đai, con người ở nơi đây. Tôi thực sự xấu hổ và sự đau khổ này đã chế ngự trái tim tôi suốt 30 năm sau khi quay trở về từ Việt Nam. Sự buồn phiền, đau khổ này “đã làm trái tim tôi đau khổ” với đúng nghĩa đen của cụm mỹ từ ấy: tôi đã trải qua 6 cơn đau tim và 18 lần các bác sĩ đã phải can thiệp trái tim tôi bằng dao kéo.
Tôi đã quay trở lại Việt Nam vào năm 1998 để được sống giữa những người vốn là kẻ thù của tôi ở Hà Nội vì hai mục đích. Đầu tiên, tôi muốn phỏng vấn những người tôi đã chiến đấu để giúp tôi hiểu tại sao họ (những người đến từ miền Bắc Việt Nam) lại mạnh mẽ, anh dũng đến như vậy. Tôi muốn miêu tả cuộc chiến tranh từ góc nhìn của những người vốn là kẻ thù của tôi trong cuốn sách tôi đang viết. Lý do thứ hai khiến tôi lại quay trở lại Việt Nam vào thời điểm tháng 9 năm 1998, là vì tôi muốn được bù đắp những mất mát mà tôi đã gây ra cho “kẻ thù” của tôi. Tôi muốn quay trở lại nơi mà tôi tham gia cuộc chiến tranh gần tỉnh Thừa Thiên-Huế và thung lũng Ashaw (A Sầu-A Lưới) gần nước Lào và hỗ trợ chi phí xây dựng nhằm góp phần hồi sinh cho cuộc sống người dân ở những vùng đất mà tôi và binh lính Mỹ đã từng phá hủy. Tôi biết rằng để “trả giá” cho một cuộc sống là điều không thể thực hiện được, nhưng nỗi đau buồn và sự xấu hổ vì đã không hiểu sự thực và hậu quả của cuộc chiến tranh đã giày vò tôi, thôi thúc tôi. Và tôi đã quyết định “làm việc tốt” cho những người vốn là “kẻ thù” của tôi và cho những người mà tôi đã từng có thiện chí ngây thơ là đến để “cứu giúp” họ. Tôi phải làm một điều gì đó để làm dịu bớt nỗi đau trong trái tim, trí óc và tinh thần của tôi. Tôi cũng muốn hỗ trợ học bổng cho những em mà cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã làm các em trở thành những đứa trẻ mồ côi – tôi muốn hỗ trợ cho những trẻ mồ côi này ở cả hai miền Nam và Bắc của nước Việt Nam.
Sự xấu hổ và nỗi đau buồn mà tôi chịu đựng đó không phải là vì việc bị cam kết về những hành động tàn bạo hay là việc giết những trẻ em và phụ nữ. Tôi đã không làm điều đó, nhưng tôi phải đếm các tử thi bị giết hại. Tôi được giao nhiệm vụ là tìm kiếm, kiểm tra những phần còn lại của xác chết và cung cấp những “thông tin mật về quân sự” cho “Cơ quan tình báo”. Vì vậy tôi biết rất rõ chúng tôi đã giết những ai. Tôi đã phục vụ một cách đầy hãnh diện trên cương vị một người lính. Tuy nhiên, tôi đã bằng lòng làm quân tốt đen ngốc nghếch trong một trò chơi hèn nhát của những chính trị gia Mỹ, và không ai trong bọn họ có con chiến đấu tại Việt Nam. Tôi đã trở thành một người luôn trong tâm trạng lo lắng, băn khoăn, u uất và đau khổ khi 30 năm sau trở lại Việt Nam, tôi đã gặp chị và con gái chị vào tháng 9 năm 1998. Tôi đã chịu đựng 30 năm trời ở Mỹ, trở thành một người bị trừng phạt, nguyền rủa và xa lánh bởi vì tôi là một cựu chiến binh đã tham chiến tại Việt Nam. Tôi đã từng có suy nghĩ rằng “Chắc chắn những người dân Việt Nam, đặc biệt là những người ở Hà Nội, sẽ căm giận về những tội ác mà chúng tôi đã gây ra. Họå làm điều đó hoàn toàn xác đáng! Do đó, tôi đã có cảm giác bị bắt buộc phải trải qua sự ghét bỏ của họ (những người Việt Nam) trong cố gắng “tạo sự hòa bình” với những người nguyên là kẻ thù của tôi. Tôi đã không chuẩn bị cho tình yêu thương và sự tha thứ.
Thế mà tôi đã được yêu quý và tha thứ! Những ngày trở lại Việt Nam, tôi đã được giúp đỡ rất nhiều, trong đó có chị và con gái chị, trong vai trò là những chiếc cầu nối, những người hướng dẫn và phiên
 |
|
Nhà giáo Trần Thị Thanh Liêm |
dịch. Tôi đã cùng chị và cháu Sơn, con gái chị, nhiều lần trò chuyện. Tôi đã thành thật kể với chị những gì tôi đã làm ở Việt Nam vào năm 1968 và 1969. Rồi sau đó chị đã kể với tôi, có bao nhiêu người thân của chị đã mất đi cuộc sống của mình vì hậu quả của những quả bom Mỹ đã thả xuống. Sau tất cả những điều đó, chị và con gái của chị vẫn yêu quý và thật tử tế với tôi. Tôi đã hỏi chị câu hỏi này: “Làm như thế nào chị có thể tha thứ cho những gì tôi đã làm ở đất nước của các chị?”. Chị đã suy nghĩ một lúc và trả lời: “Chúng tôi biết rằng, ông không biết những gì ông đã làm”. Tôi đã bật khóc vì không ngăn được những giọt nước mắt của mình khi chị nói những từ này với tôi. Đó là lần đầu tiên tôi khóc sau 30 năm - khi nỗi đau buồn của tôi về thời gian tôi đã ở Việt Nam lớn hơn bất cứ nỗi buồn nào khác mà tôi đã từng có trong cuộc đời này.
Tôi là một con chiên của chúa và chúa Giê-su đã nói khi Ngài đang bị treo trên cây thập giá, “Hãy tha thứ cho họ. Họ không biết những gì họ làm đâu”. Tôi biết rằng chị không biết những gì chúa Giê-su đã nói, bởi chị không theo đạo Ki-tô, nhưng chị đang là một con chiên của Chúa hơn bất cứ những con chiên của Chúa nào mà tôi đã từng gặp. Và tôi cũng biết chị là một chiến sĩ cộng sản. Đó là một trong những lý do tại sao tôi đã khóc-bởi vì một sự trớ trêu rằng sự tha thứ, lòng vị tha của chị, của những người trong đất nước của chị với những gì mà chúng tôi đã gây ra so với sự thiếu lòng vị tha, tha thứ của “những con chiên của Chúa” trong chính đất nước của tôi. Kinh nghiệm, sự từng trải mà chị đã dành cho tôi, khiến tôi biết ơn chị hơn bất cứ người nào khác trong cuộc sống của tôi, hơn cả mẹ, Ann vợ tôi và Kit, Stacey các con gái của tôi…
Những gì chị đã nói với tôi, những gì chị đã làm cho tôi trong bốn tháng tôi sống ở Hà Nội mười năm trước, năm 1998, đó là lòng tốt vĩ đại nhất mà tôi đã nhận được trong cuộc đời của mình và lòng tốt, sự quan tâm đó đã đến từ một người vốn là kẻ thù và từ những người sống trong một đất nước cộng sản. Sự khám phá này được biết đến với cả thế giới rằng lòng thương yêu, tính vị tha đối với kẻ thù là những người tốt làm theo phẩm chất tự nhiên của họ. Những gì chị đã nói với tôi và những gì chị đã làm cho tôi trong bốn tháng (sắp xếp gần một trăm cuộc tiếp xúc để tôi có cơ hội gặp mặt nhiều người khác nhau và cho phép con gái của chị, cháu Sơn, trở thành người phiên dịch cho tôi…) đã cho tôi niềm hy vọng lớn vào cuộc đời, vào tính nhân văn của con người trên thế giới này. Chị đã củng cố cho tôi lòng mong muốn được trở thành những người bạn của những người lính đối phương mà tôi đã chiến đấu. Bởi tôi vô cùng ngưỡng mộ họ vì lòng quả cảm, sự trung thành, danh dự, tính kỷ luật, tự giác và sự hy sinh của họ.
Vì những lý do ấy, tôi sẽ không bao giờ quên chị, cháu Sơn và những người Việt Nam-những người đã dành cho tôi sự tha thứ và tình yêu thương gần như hơn bất cứ người nào trên đất nước của tôi, ngoại trừ mẹ, vợ và các con của tôi.
Xin gửi tới chị tất cả những sự tôn trọng, yêu mến và sự biết ơn mãi mãi…
Washington, ngày 26 tháng 12 năm 2008
Greg Gianas (Sơn Hải dịch)