Tôi bị giặc bắt với tên là Phan Huy Vân, lúc đang hoạt động cách mạng bí mật tại nội thành Sài Gòn. Ra tòa án Quân sự Mặt trận, bị chúng buộc tội “phản nghịch” và kết án 5 năm tù khổ sai. Tôi chống chào cờ, chống làm khổ sai nên thực tế là bị cấm cố trong nhiều năm liền ở Côn Đảo. Với thời hạn đúng 5 năm, có viên giám thị đến trước cửa xà lim nơi giam tôi ở chuồng cọp lao 7, bảo tôi nghe đọc quyết định của chính quyền Sài Gòn. Trong quyết định thứ nhất có nêu rõ tôi bị bắt ngày 25 tháng 11 năm 1969 và đến ngày 25 tháng 11 năm 1974 này là ngày mãn án. Tiếp theo là quyết định thứ hai, trong đó tôi bị chúng nhận xét là thành phần ngoan cố nên phải bị án an trí vô thời hạn. Nghe đọc xong, tôi hỏi: chuyển qua an trí thì có gì khác không? Viên giám thị trả lời lạnh lùng: Vẫn bị giam ở đây như cũ không có gì khác. Rồi bỏ đi.
 |
|
Đồng chí Trần Trọng Tân. Ảnh: Xuân Cường |
Vào tù, không tranh đấu với địch thì không sống được. Riêng tôi, tôi còn cố làm thơ để tự bồi dưỡng đời sống nội tâm, đời sống tình cảm. Từ nay biết là bị an trí vô thời hạn, như vậy tức là còn tranh đấu và còn làm thơ vô thời hạn.
Với chủ đề của bài viết này là “ở tù, tranh đấu, làm thơ”, tôi muốn kể lại một cuộc đấu tranh kéo dài nhiều ngày ở trại 5 nhà tù Côn Đảo và một bài thơ tôi làm, sau khi cuộc đấu tranh bị đàn áp rất tàn ác.
Cuộc đấu tranh ở trại 5 đã nổ ra vào lúc chúng đã đẩy anh em tù chúng tôi đến chỗ không đấu tranh thì chỉ có chết, chết thực sự.
Vào những tháng cuối năm 1971, kiếm cớ Mỹ giảm viện trợ, chúng giảm bớt khẩu phần ăn của anh em tù chính trị chúng tôi đến mức tồi tệ. Cơm thì nấu từ gạo hẩm, còn thức ăn cho mỗi người một bữa ăn, chỉ có ba con cá khô mục mặn đắng. Đặc biệt chúng cắt hết khẩu phần rau. Anh em, một số bị kiết lỵ, một số bị bệnh bầm đen từ bàn chân lên và nếu để bầm đen đến đầu gối là chết. Một bạn tù của chúng tôi đã chết như thế.
Chẳng lẽ cứ chịu để chết dần chết mòn thế này sao? Anh em bàn với nhau và quyết định là phải đấu tranh đòi được ra ngoài tự trồng rau để ăn. Bước đầu chúng tôi cử đại diện yêu cầu gặp trưởng trại, nhưng trưởng trại 5 không chịu gặp. Chúng tôi đành phải hô la tập thể đòi gặp trưởng trại. Trưởng trại 5 ra lệnh đối phó bằng khóa chặt các phòng giam, không cho ra tắm nắng và tắm nước. Mỗi ngày, mỗi phòng giam chỉ cho hai người ra làm vệ sinh thùng cầu (thùng đựng phân đặt ở trong phòng giam). Chúng tôi hô la đòi gặp tỉnh trưởng Côn Đảo. Mặt khác, tranh thủ anh em thường án được chúng giao giữ “trật tự”, tức là làm nhiệm vụ canh gác các phòng giam chúng tôi, chuyển vào cho chúng tôi rau, cỏ. Thỉnh thoảng anh em cũng chuyển được vài củ khoai lang hoặc vài miếng da trâu nướng. Chính anh em bày cho chúng tôi là ăn các thứ này có thể cứu anh em bị bầm đen chân, khỏi chết. Mà đúng thật, khi có củ khoai, miếng da trâu hay cọng rau, cọng cỏ, thậm chí là lá bàng non, cây chó đẻ là loại cây có vị rất đắng để nhai nuốt là vết bầm đen giảm và được cứu sống.
Nửa tháng trời, mỗi ngày hai lần sáng và chiều, chúng tôi đồng thanh hô la, yêu cầu cải thiện đời sống. Nhưng chúng không chịu gặp, không chịu giải quyết. Khi rộ lên anh em tù ở các trại khác đều hô la hưởng ứng, chúng liền huy động cảnh sát võ trang đến đàn áp ở trại 5, nơi khởi xướng. Bọn cảnh sát đã dùng súng, qua các lỗ thông hơi, phóng lựu đạn cay vào mỗi phòng. Lựu đạn cay nổ đùng đùng, khói lên nghi ngút như đánh trận.
Khi thấy anh em tù chính trị chúng tôi bị xỉu ngất hết, chúng mới mở cửa phòng giam, cho số “trật tự”, là số tù thường án và quân phạm tay sai của giám thị, vào phòng giam, khiêng chúng tôi tống lên xe, chở phân tán anh em chúng tôi sang các phòng giam ở các trại khác. Nhờ có khăn tẩm nước tiểu trùm lên đầu, lên mặt, nên tôi bị bỏng nhẹ và bị chúng đưa qua nhốt ở trại 4. Số anh em bị bỏng nặng, chúng cho ra bệnh xá nằm để cứu chữa ngay. Qua trại 4, trưởng trại đến, hứa sẽ cứu chữa cho anh em chúng tôi với điều kiện là phải ngưng hô la. Chỉ một ngày ở trại 4, chúng nghi tôi là người lãnh đạo nên đã bắt riêng tôi đưa đến nhốt vào xà lim biệt lập thuộc khu hầm đá trại 3 rồi trại 2, theo chiến thuật, bọn giám thị thường gọi là “điệu hổ ly sơn” (điều cọp rời khỏi núi).
Đây là khu biệt giam, nơi hành hạ số tù nhân ở Côn Đảo lúc bị chúng phạt. Mỗi phòng giam rộng chỉ hơn 3 mét vuông, cách nhau có bức tường dày, một nửa có bệ nằm, chân tù nhân bị còng vào còng sắt. Ra vào có cửa sắt, lúc đóng kín chỉ có một lỗ thông hơi nhỏ. Bị nhốt ở đây, lúc đầu, chúng không cho mặc quần áo dài, mà chỉ được mặc mỗi cái quần cụt với cái áo may ô, và bị còng cả hai chân. Chúng không cho ra sân phơi nắng. Ba ngày mới có một lần ra ngoài múc nước giếng làm vệ sinh thùng cầu. Mỗi ngày chỉ cho đưa vào phòng một lon nước khoảng hơn một lít, với mấy chiếc lá bàng thay cho giấy vệ sinh. Nếu thấy chịu nằm êm, không hô la thì lần lượt cho mở lỗ thông hơi, cho mặc quần áo dài, cho ra tắm nắng, tắm nước, làm vệ sinh thùng cầu mỗi ngày một lần từ 5 đến 10 phút rồi còng một chân. Cuối cùng là còng mãi một chân.
Trong lúc chúng đối xử hà khắc như thế thì anh em bạn tù lại tìm mọi cách chuyền được cho tôi rau, thuốc, cơm cháy (phòng bị đau dạ dày)… Nhờ đó mà giữ được sức. Và ở đây, tôi cũng vẫn viết được lên lá bàng những ý kiến ngắn gọn, những vần thơ… để chuyền cho bạn tù đọc.
Nằm ở đây, vào dịp gần Tết, tiết trời lạnh, hầm đá ẩm, bốc mùi mốc. Muỗi thì vơ tay một cái là tóm được vài chục con, lại bị giam biệt lập một mình nên rất khó ngủ. Khó ngủ thì tôi cố làm thơ để khỏi nghĩ mung lung không có chủ đích, thao thức mệt hơn.
Lắng nghe các loại tiếng trong đêm ở đây, từ tiếng muỗi kêu, tiếng gió thổi, tiếng sóng vỗ, tiếng cành gãy, lá rơi, tiếng dơi bay, cú rúc, tiếng chó sủa, tiếng tắc kè… cho đến cả tiếng lòng, tôi đã “tức cảnh” làm nên bài thơ “Nghe tiếng đêm Côn Đảo”. Bài thơ này đã được in trong tập thơ “Bài ca lâm trận” do Nhà xuất bản Văn học giải phóng xuất bản năm 1975.
Thơ rằng:
Thân gầy, hầm đá đêm đông
Không chăn, chẳng chiếu,
chân còng, lạnh, tê.
Muỗi kêu khó ngủ nằm nghe
Ù ù gió thổi bốn bề lao xao
Ào ào, sóng vỗ ào ào
Nghe như cách mạng dâng trào, sục sôi
Sân tù xào xạc lá rơi
Cành khô răng rắc gãy rời thân cây
Kinh hoàng sột soạt dơi bay
Vọng về cú rúc, hờn thay oán hờn
Rã rời, hoảng hốt, thê lương
Nghe như giặc Mỹ đang cơn suy tàn
Tắc kè điểm, chó sủa ran
Rù rù tiếng máy, lính tuần ban đêm
Tù đói lạnh, ngủ không êm
Tiếng còng khua, tiếng ai rên khám ngoài
Xếp ơi! ơi Xếp! Xếp ơi!
Tù la cấp cứu, động trời giấc khuya
Lắng nghe, nghe nữa lắng nghe
Đất liền vang tiếng dội về: Xung phong!
Lắng nghe, nghe cả tiếng lòng
Tình Dân nghĩa Đảng, hiếu trung một bề
Lạnh thân, lòng ấm, ấm ghê!
Ta nghe cả tiếng ngày về, vui sao!
Vào tù mà vẫn trong tư thế người chiến thắng, anh em ta vẫn luôn luôn tin tưởng có ngày về. Tôi tuy bị an trí vô thời hạn nhưng vẫn đinh ninh là ngày về không xa. Đó là tâm trạng lạc quan của lớp anh em tù chính trị chúng tôi thời đó, thời mà cuộc tổng tấn công và nổi dậy của quân dân ta trong dịp Tết Mậu Thân (1968) buộc Mỹ phải chịu đàm phán với Chính phủ ta ở Pa-ri.
Và ngày về đã đến thật. Sáng ngày 01-5-1975, chúng tôi đã tự nổi dậy giải phóng khỏi cảnh ngục tù. Phái viên chính phủ cách mạng, khi đưa quân ra tiếp quản Côn Đảo hôm 5-5-1975 đã đặt tên cho đoàn anh chị em chúng tôi là “Đoàn chiến thắng”. Mỗi người được gắn một ngôi sao đỏ trên ngực. Ngày 17-5-1975, tôi được trở về Sài Gòn, gặp lại đồng đội, đồng chí, bà con, bạn bè, những gia đình cơ sở cách mạng đã nuôi giấu mình trong những năm tháng hoạt động bí mật ở nội thành, tôi mừng, ai cũng mừng, mừng mà rơi nước mắt.
Đúng là ngày về vui sao! Niềm vui thoát cảnh ngục tù, đất nước được hoàn toàn giải phóng thật không thể nào tả xiết.
TRẦN TRỌNG TÂN