Thực hành huấn luyện đo biển

“Sông sâu còn có kẻ dò”... Câu ca xưa ngụ ý việc đo đạc, khảo sát lòng sông là phi thường, hi hữu lắm! Vậy mà, ngày nay chúng ta có một đơn vị bộ đội chuyên đo... lòng biển, một công việc còn khó khăn phức tạp gấp nhiều lần đo đạc lòng sông. Đó là Đoàn đo đạc biển và biên vẽ hải đồ Hải quân, còn gọi là “Đoàn Sáu”. Đây là đơn vị duy nhất từ trước đến nay ở nước ta được Nhà nước và quân đội giao nhiệm vụ đo đạc thành lập bản đồ biển của nước ta, phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng...

Từ cửa Gianh đến Trường Sa

Lịch sử truyền thống ngành đo đạc biển và biên vẽ hải đồ Hải quân gắn liền với lịch sử truyền thống hơn nửa thế kỷ của Hải quân nhân dân Việt Nam. Năm 1955, cùng với sự ra đời của Cục phòng thủ bờ biển (tiền thân của Bộ Tư lệnh Hải quân hiện nay), Phòng bảo đảm hàng hải và Ban biên vẽ hải đồ cũng được thành lập. Đó là một trong những cơ quan chức năng đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Ngày 5-8-1964, sau khi dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ ồ ạt leo thang đánh phá miền Bắc nước ta. Hôm đó, tàu P.527 của Ban biên vẽ hải đồ đang hoạt động ở vùng Cửa Gianh (Quảng Bình), đã phối hợp với LLVT địa phương chiến đấu quyết liệt với máy bay, tàu chiến địch. Tổ trưởng đo sâu Hoàng Duy Quý anh dũng hi sinh, nhiều đồng chí khác bị thương. Sau trận chiến đấu ấy, liệt sĩ Hoàng Duy Quý được truy tặng huân chương Chiến công hạng hai; hai thương binh khác của tàu P.527 được thưởng huân chương Chiến công hạng ba. Đó là những tấm huân chương đầu tiên của những người lính đo đạc biển và biên vẽ hải đồ Hải quân.

Tiếp đó, những người lính “dò biển” đã có mặt ở Cồn Cỏ, đảo Mắt, Hòn Mê... và theo chân bộ đội đặc công nước vào tận Đông Hà, Cửa Việt... góp phần làm nên những chiến công huyền thoại. Những bến bãi bí mật ở cửa Gianh, sông Son, sông Bến Hải... để từ đó những chiếc xe tăng bất ngờ xuất hiện trên chiến trường miền Nam khiến quân thù thất điên bát đảo, có công lao những người lính thuộc Ban biên vẽ hải đồ... Và chính họ cũng đã góp phần rất quan trọng trong việc làm thất bại âm mưu phong tỏa bờ biển miền Bắc bằng thủy lôi của đế quốc Mỹ.

Sau ngày thống nhất đất nước, Đoàn đo đạc biển và biên vẽ bản đồ hải quân (Đoàn 6) chính thức thành lập (20-12-1976). Khảo sát và đo đạc khu vực quần đảo Trường Sa là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đoàn 6. Từ đó, mỗi năm ít nhất đơn vị cũng có một chuyến đi Trường Sa, mỗi chuyến ít nhất cũng vài ba tháng lăn lộn trên các đảo chìm, đảo nổi khắp “quần đảo bão tố”. Những số liệu về khí tượng thủy văn, địa hình đáy biển, trọng lực địa chấn... do những người lính “Đoàn Sáu” thu thập được đã góp phần hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển-đảo trong thời kỳ mới. Những số liệu quí giá ấy, được đổi bằng không chỉ mồ hôi, công sức mà đôi khi bằng cả xương máu của những người lính “Đoàn Sáu”. Tháng 2-1977, đại đội phó Trần Quang Triết-người cắm thước nước đầu tiên trên quần đảo Trường Sa và chiến sĩ đo đạc Lê Đình Tới đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Những số liệu thuỷ triều do các anh và đồng đội trải bao vất vả khó khăn để thu thập trong hơn 3 tháng công tác, đã góp phần xây dựng nên tập “Phụ bản Bảng thuỷ triều Trường Sa” phục vụ cho hoạt động của bộ đội hải quân, các ngành kinh tế quốc dân và cả bảo đảm hàng hải quốc tế. Năm 1988, trung uý Lê Đình Thư và hạ sĩ Cao Xuân Minh trong khi làm nhiệm vụ đo đạc, đã trực tiếp chiến đấu với lực lượng nước ngoài xâm phạm chủ quyền lãnh hải và đã anh dũng hi sinh. Năm 1999, một sĩ quan trẻ đã hi sinh khi làm nhiệm vụ trong điều kiện thời tiết xấu, bị sóng hất xuống biển...

Và những chuyện chưa biết

Thiếu tá Cao Phúc Hưng, đội trưởng đội 1 của “Đoàn Sáu” là một trong những người đầu tiên có mặt từ ngày thành lập đơn vị. Anh đã đến hầu hết các đảo nổi, đảo chìm ở quần đảo Trường Sa, khu đặc quyền kinh tế DK1 và thông thuộc hết luồng lạch xung quanh các đảo Cồn Cỏ, Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo... Mấy chục năm làm lính đo biển, hàng trăm chuyến lênh đênh giữa đại dương có khi gần nửa năm mới trở về, nên anh là “kho tư liệu” của đơn vị. Kỷ niệm sâu sắc nhất của anh là những con tàu pha sông biển, được trưng dụng làm tàu đo biển suốt một thời gian dài trước đây. Tàu thuyền cũ nát, phương tiện lạc hậu đã đành, khó khăn nhất là tàu vận tải chỉ thiết kế cho khoảng hai chục sĩ quan và thủy thủ, trong lúc một đội đo biển đồng bộ ít nhất phải bốn chục người. Không chỉ thiếu chỗ ăn nghỉ, mà các thiết kế bảo đảm cho ngần ấy con người, như: Khoang nước ngọt, khoang lương thực và thực phẩm, phòng tác nghiệp chuyên môn v.v.. cũng hết sức bất cập. Nỗi gian truân vất vả của những người lính đo biển phải lênh đênh hàng tháng ròng rã giữa đại dương vì thế càng gấp bội...

Nhưng, cũng chính vì vậy mà thành quả của những người lính đo biển đạt được càng có ý nghĩa lớn lao hơn. Theo đại tá Chính ủy Phạm Hải Châu, thì một trong những nét nổi bật trong lịch sử ba mươi năm của “Đoàn Sáu”, là quá trình phấn đấu vươn lên, không ngừng trưởng thành về trang bị kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Nhà nước và quân đội giao phó. Từ một đơn vị biên chế nhỏ, với những cán bộ và nhân viên kỹ thuật được đào tạo “tay ngang”; đến nay “Đoàn Sáu” đã có một cơ ngơi khang trang, lực lượng “hùng hậu”, có các phòng, ban chức năng qui củ với gần tám mươi cán bộ tốt nghiệp đại học và trên đại học, nhiều người được đi tu nghiệp ở nước ngoài. Từ những con thuyền pha sông biển cải hoán, những thiết bị quan trắc cũ kỹ, những chiếc sào và dây dọi đo sâu thủ công... đến nay Đoàn đã được trang bị những thiết bị đặc chủng hiện đại nhất của các nước tiên tiến, như: Máy đo sâu Knudssen 320M (Ca-na-đa), máy quét biển Klein 595 (Mỹ), hệ thống định vị vệ tinh DGPS truyền số liệu tự động v.v.. Có thế nói, trình độ chuyên môn và trang bị kỹ thuật của đơn vị hiện nay đã đủ điều kiện để hội nhập quốc tế. Điều đó được chứng minh qua chương trình hợp tác gần đây của “Đoàn Sáu” với một số tổ chức đo đạc và biên vẽ hải đồ các nước trong khu vực và thế giới. Đặc biệt là một số đề tài cấp Nhà nước do “Đoàn Sáu” tham gia thực hiện, như: Bản đồ nông hóa và thổ nhưỡng một số tỉnh ven biển; Dự án đo đạc địa chấn và trọng lực một số vùng cảng biển; Bản đồ vùng biển tây Thái Bình Dương (dự án của Ủy ban quốc tế IOC Việt Nam); Dự án đường cáp quang xuyên biển v.v..

Nhắc đến đề tài bản đồ nông hóa và thổ nhưỡng các tỉnh ven biển, phục vụ chương trình nuôi trồng thuỷ sản, bảo vệ và khai thác tiềm năng vùng rừng ngập mặn, thiếu tá Khương Văn Long-người từng ở đội 1, đội 2 và nay đang công tác ở đội 4, kể: “Khảo sát, đo đạc ở gần bờ cũng có những nỗi vất vả gian truân riêng. Tàu lớn phải đỗ ngoài khơi, dùng xuồng con bơi vào gần bờ, rồi thì vác máy lội bùn, băng rừng sú vẹt suốt ngày. Tối thì vào ngủ nhờ nhà dân hoặc theo xuồng ra tàu. Có anh vác máy lội bùn mệt quá, đến khi chỉ cách xuồng vài chục mét mà bươn không nổi, ngất xỉu luôn”...

Vâng, đo đạc khảo sát gần bờ cũng gian truân, vất vả chẳng kém gì công việc “dò biển” ở đại dương. Lần sau về công tác “Đoàn Sáu”, nhất định chúng tôi sẽ hỏi kỹ chuyện này...

MAI NAM THẮNG