Nghề làm giấy ở Việt Nam xuất hiện từ khá sớm. Một trong những làng nghề làm giấy phải kể đến là làng nghề giấy dó Yên Thái, còn gọi là kẻ Bưởi, nằm ở phía Tây Bắc Thủ đô. Theo sử sách, một học giả Trung Quốc là Hoa Kế Hàm trong cuốn “Nam Phương thảo mộc trang” đã nói đến một thứ giấy của người Giao Chỉ làm bằng gỗ cây trầm được làm vào đầu thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên. Bàn tay lao động tài hoa của người Việt đã làm ra một loại giấy đẹp đến mức mà vua Lý Cao Tông (1176-1210) trong những đồ cống của triều đình Việt Nam gửi sang nhà Tống thì bên cạnh ngà voi, sừng tê giác, lụa… còn có cả giấy tốt. Trong sách “Địa dư chí” (1435) của Nguyễn Trãi đã nhắc đến phường Yên Thái ở Thăng Long gồm nhiều làng: Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái, Nghĩa Đô làm ra nhiều loại giấy như giấy sắc (dùng viết sắc vua ban), giấy lệnh (dùng viết các lệnh chỉ của vua), giấy bản (dùng để in sách và viết chữ nho bằng bút lông, mực tàu), giấy dó (dầy hơn giấy bản để in tranh dân gian). Ngoài ra, thợ giấy Yên Thái còn sản xuất giấy moi, giấy phèn bằng nguyên liệu xấu hơn, mặt giấy thô ráp dùng để gói hàng… Nhịp chày giã vỏ dó-nguyên liệu chủ yếu làm nên giấy dó ở phường Yên Thái vang dội xuống mặt nước Tây Hồ, đã gợi cảm hứng cho những tâm hồn giàu thi ca trước vẻ đẹp của chốn kinh kỳ thanh bình, yên ả. Qua nhiều thế kỷ, câu ca dao nổi tiếng ở vùng Hồ Tây là một ví dụ sinh động nhất: “Gió đưa cành trúc la đà/Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/Mịt mù khói tỏa ngàn sương/Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.

Nghề làm giấy thủ công ở Yên Thái thật vất vả, tất cả các công đoạn sản xuất từ bóc vỏ dó, ngâm, giã, nấu, lọc dó, xeo giấy đến đóng kiện và vận chuyển đi bán đều bằng sức người thợ. Nguyên liệu làm giấy ở Yên Thái là vỏ cây dó, nó được trồng nhiều ở vùng Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Lạng Sơn. Vỏ dó tươi đem về được ngâm nước lã một ngày một đêm. Sau đó được vớt lên ngâm vào nước vôi loãng trong hai ngày hai đêm nữa rồi đun cách thủy trong vạc. Khi vỏ dó chín, người ta bóc hết lần vỏ đen bỏ đi, phần vỏ dó còn lại có màu trắng muốt, được đem giã nhuyễn bằng cối lớn, chày tay. Những chàng trai Yên Thái giã giấy dó cả ngày lẫn đêm, trong ánh đèn le lói, tiếng chày giã dó thậm thịch gieo vào đêm thanh vắng “Nhịp chày Yên Thái nhặt thưa/ Đèn le lói sáng lòng ngơ ngẩn buồn”. Từ cây cỏ trong thiên nhiên được tạo ra trong môi trường nước và lửa, những tờ giấy lụa mỏng manh đã ra đời rồi chính những tờ giấy đó đã để lại cho hậu thế được chiêm ngưỡng những nét bút tài hoa của bao nhiêu văn nhân, mặc khách, bao anh hùng, thi sĩ. 

Ngày nay, với sự phát triển của lịch sử, công nghệ sản xuất giấy hiện đại đã thay thế nghề làm giấy thủ công, khiến nghề giấy dó cổ truyền Yên Thái không còn nữa, nhưng Yên Thái - làng Bưởi vẫn còn đó như một chứng tích về một vùng quê với làng nghề giấy dó nổi tiếng xa xưa và “nhịp chày Yên Thái” mãi mãi còn trong thi ca và tâm thức của người Việt Nam ta.

 LÊ QUÝ HOÀNG