Gioóc-giơ Tê-nét, sinh ngày 5-1-1953 trong một gia đình Hy Lạp định cư tại Mỹ. Ông từng làm việc dưới chính quyền Clin-tơn và chính quyền Bu-sơ, giữ chức vụ Giám đốc Ủy ban Tình báo Thượng viện từ 1988-1993; nhân viên Hội đồng An ninh quốc gia 1993-1995; Phó giám đốc CIA 1995-1996; Quyền Giám đốc CIA 1996-1997; Giám đốc CIA 1997-2004. Ngày 3-6-2004, ông nộp đơn xin từ chức Giám đốc CIA vì lý do cá nhân.

Nhiều năm hoạt động trong ngành tình báo, bảy năm trên cương vị Giám đốc CIA đã giúp cho Gioóc-giơ Tê-nét có những nhận xét, cách nhìn nhận những công việc thực hiện đối phó với mối đe dọa đến nước Mỹ, việc giải trừ các vũ khí hủy diệt hàng loạt, việc làm cầu nối hàn gắn mối quan hệ giữa I-xra-en và Pa-le-xtin, về cuộc chiến ở I-rắc, v.v.. một cách “khách quan và không hề tô vẽ”.

Trong cuốn hồi ký “Mắt bão” của Gioóc-giơ Tê-nét, tác giả coi đó là “những hồi ức của tôi về thời kỳ đầy hỗn loạn của nước Mỹ”, nó có thể không hoàn toàn khách quan, và cũng có một số đánh giá về một số sự kiện, chỉ là những ý kiến riêng của cá nhân tác giả. Báo Quân đội nhân dân cuối tuần trích đăng chương 6 của cuốn hồi ký này.

A-RA-PHÁT

Một người rất kiên định tại Trung Đông trong suốt nhiệm kỳ của tôi là Y-át-xơ A-ra-phát. Từ bề ngoài, trong lần đầu tiên lên trang bìa tạp chí Time năm 1968, rồi những năm cuối cùng bị giam giữ bởi người I-xra-en tại sở chỉ huy của ông ở Ra-man-la, cho đến lúc từ giã cõi đời vào tháng 12-2004 tại Pa-ri, A-ra-phát luôn là gương mặt đại diện cho cuộc đấu tranh của người Pa-le-xtin.

A-ra-phát là vị anh hùng của cuộc cách mạng, là người lãnh đạo nhân dân. Một thực tế không thể phủ nhận là, nếu thiếu ông, tiến trình hòa bình giữa Pa-le-xtin và I-xra-en chắc chắn không thể thành công, và ông ta không muốn nó thành công theo bất kỳ cách nào có lợi cho I-xra-en hay Mỹ. Nhiều lần, trong phòng họp, tất cả chúng tôi đều hy vọng rằng ông ta biến mất. Nhưng khi ông ta ra khỏi phòng, chúng tôi dường như không nói chuyện về một ai khác.

Chủ tịch A-ra-phát trong những ngày cuối đời.

Người I-xra-en biết A-ra-phát. Họ biết rõ ông hơn bất kỳ ai trên thế giới, và cuộc tranh luận sẽ luôn là: Ông ta là ai? Ông ta có chiến lược nào không? Tôi đã có một cuộc nói chuyện dài về vấn đề này trong suốt một buổi tối với Xlô-mô Y-a-nai, sau này là Giám đốc Kế hoạch quân sự cho Lực lượng Phòng vệ I-xra-en. Xlô-mô là một cựu lính xe tăng, ông ta đã suýt bị thiêu cháy trong một trận chiến. Là một nhà chiến lược, chính trực và thẳng thắn, ông ta là người tôi có thể tin tưởng.

Sau nhiều câu chuyện, cuối cùng ông ta nói rằng “Hãy trả lời câu hỏi sau đây: A-ra-phát là Moóc-xơ (nhà lãnh đạo đồng thời là tiên tri người Do Thái) hay là Ben Gu-ri-ôn (Thủ tướng đầu tiên của nhà nước Do Thái)?”. Sau đó, ông ta tự trả lời: “Ông ta là Moóc-xơ. Ông ta sẽ không bao giờ thực hiện thỏa thuận. Ông ta sẽ không bao giờ ký vào bản thỏa thuận. Ông ta sẽ không bao giờ thỏa hiệp vị trí của mình bởi vì ông ta muốn đưa nhân dân mình đến Miền đất hứa. Miền đất hứa với A-ra-phát chính là Giê-ru-xa-lem, và ông ta sẽ không bao giờ nhường nhịn”. Đó là một phân tích sáng suốt về Y-át-xơ A-ra-phát mà tôi từng được nghe.

Mặc dù Mỹ đã thiết lập mối quan hệ với A-ra-phát từ rất lâu nhưng sẽ nhầm lẫn nếu đánh giá mối quan hệ đó là thân thiết. Một trong những lần đầu tiên tôi gặp ông là tại bữa tối ở khu cư trú của các giám mục chính thống Hy Lạp tại Bét-lê-hem. Khi đó tôi vẫn là Phó giám đốc CIA, nhưng tôi ngồi cạnh A-ra-phát, phía dưới bức tranh The last Supper (Bữa ăn tối cuối cùng), trong một căn phòng vây quanh bởi súng. Tôi nhớ đã nhìn bức họa đó, nhìn đĩa thức ăn của mình, suy ngẫm về tất cả những căng thẳng tôn giáo vốn đã gây ảnh hưởng đến mọi thứ ở Bét-lê-hem, và nghĩ: Thế là kết thúc. Tôi đã làm xong công việc của mình. Đây cũng có lẽ là bữa ăn tối cuối cùng của tôi”.

Trong suốt bữa ăn, A-ra-phát rất quan tâm đến tôi, thậm chí còn lấy cả thức ăn từ đĩa của mình rồi chuyển cho tôi và nói rằng, ông lo tôi không có đủ thức ăn để ăn. Sau bữa tối, tôi tình cờ đề cập rằng mình là một tín đồ chính thống Hy Lạp, sau khi nghe điều này, A-ra-phát còn tỏ ra thân thiện với tôi hơn. Điều đó cho thấy rằng, ông ta có cảm tình với người Hy Lạp.

Sự thật là tôi yêu người I-xra-en – tình yêu cuộc sống của họ, những gì họ làm để đấu tranh cho chính mình và những gì họ làm để thiết lập nhà nước – nhưng tôi cũng có mối quan hệ với người Pa-le-xtin. Y-át-xơ A-ra-phát là một phần trong số đó. Tôi không thể không yêu quý ông ta. “Bạn bè” luôn luôn là một từ kỳ lạ. Có lẽ cụm từ “hợp tác cùng có lợi” sẽ chính xác hơn, nhưng điều đó cũng không diễn tả đầy đủ cảm nghĩ của tôi về Y-át-xơ A-ra-phát.

Khi chúng tôi ở Đại sứ quán Mỹ tại Pháp vào tháng 10-2000, trong một cuộc đàm phán về hòa bình, Bu-giê Y-a-lôn, Tham mưu trưởng quân đội I-xra-en gọi A-ra-phát là rais, nghĩa là “Tổng thống”. Trước mặt Ma-đê-lên Ôn-brai và đại biểu đến từ nhiều nước, A-ra-phát bỗng nhiên nổi cơn thịnh nộ. “Ông nên gọi tôi là Tướng A-ra-phát!”.

Ban đầu, chính quyền Bu-sơ muốn tôi đứng ngoài tiến trình hòa bình này và giao lại mọi việc cho các nhà ngoại giao. Việc này cũng không thành vấn đề với tôi. Nhưng vào ngày 1-6-2001, một cuộc tấn công khủng khiếp vào một sàn nhảy có tên Đôn-phi-na-ri-um tại Ten A-víp đã xảy ra. 21 thanh niên I-xra-en, hầu hết là dân nhập cư Nga, đã bị giết bởi một kẻ đánh bom liều chết. Cuộc thảm sát này đã gây sốc cho những người I-xra-en, và dường như không khí vốn đã u ám tại đất nước này càng trở nên tồi tệ hơn. Vì vậy, một vài ngày sau, tôi được phái đến đó xem có thể làm gì để cứu vãn những nỗ lực hòa bình, cố gắng xây dựng lại bản thỏa thuận an ninh hiệu quả có thể cho phép quá trình cải thiện chính trị tiếp diễn.

Chúng tôi ở trong phòng họp Nội các của người I-xra-en, ngay phía ngoài văn phòng, A-ri-en Sa-rôn tiến hành những nỗ lực cuối cùng để có một bản hiệp ước, khi người I-xra-en bắt đầu đòi hỏi bản thỏa thuận một bên, một loại vỏ bọc che chở họ khi mọi chuyện trở nên tồi tệ, hoặc nếu không, họ sẽ để rò rỉ tin tức cho giới truyền thông nhằm phá hoại toàn bộ tiến trình.

“Không bên nào cả”, tôi nói với họ.

“Không thỏa thuận”, họ đáp lại.

Sau tám ngày, chúng tôi chạy như con thoi giữa hai bên và đưa ra bản đề xuất mà chúng tôi tin là công bằng, nhằm xây dựng lại những quan điểm cũ và nêu ra những quan điểm mới, đòi hỏi những hành động cứng rắn chống lại chính người của họ.

Gioóc-giơ Tê-nét.

Bản hiệp ước, hay còn được gọi là “kế hoạch hành động”, là một danh sách chi tiết các bước cụ thể giúp nối lại hoạt động an ninh, tăng cường tuân thủ nghiêm ngặt lệnh ngừng bắn, ngăn chặn khủng bố và tái triển khai Lực lượng Phòng vệ I-xra-en tại những vị trí họ từng giữ tám tháng trước đó. Ngoài ra, bản kế hoạch còn kêu gọi ngừng ngay các hành động tấn công bạo lực, người Pa-le-xtin bắt giữ những kẻ khủng bố, I-xra-en xóa bỏ cấm vận du lịch, và rút quân. Thực tế, sau quãng thời gian hòa giải, bản kế hoạch dự định thực hiện những gợi ý thiết lập hòa bình đề xuất vào tháng 4-2001 bởi Ủy ban Mít-xen, một tổ chức truy tìm sự thật gồm năm thành viên do nguyên Thượng nghị sĩ Gioóc-giơ Mít-xen lãnh đạo nhằm tìm kiếm nguyên nhân và các biện pháp khả dĩ giải quyết phong trào Intifada.

Trước tối ngày 11-6, chúng tôi hoàn thành công việc và tổ chức một cuộc họp ba bên cuối cùng để thống nhất lần cuối. Tôi nói: “Thật ra, chúng ta đã hết thời gian. Ngày càng nhiều công dân Pa-le-xtin và I-xra-en thiệt mạng. Những đứa trẻ I-xra-en chết tuần trước không phải những quân lính vũ trang. Ba người phụ nữ Pa-le-xtin chết hôm qua không tham gia vào cuộc khủng bố hay bạo hành nào. Ngay tối nay, chúng ta phải có lòng dũng cảm và sự mạo hiểm để chấm dứt tất cả các hành động bạo lực chống lại dân tộc các bạn. Người I-xra-en và Pa-le-xtin cần được trở lại cuộc sống bình thường. Tất cả những điều này đều có thể xảy ra. Chúng phải xảy ra. Chúng sẽ xảy ra nếu chúng ta tuân thủ những nguyên tắc trong bản kế hoạch hành động mà chúng ta đưa ra. Nhưng những nguyên tắc trên giấy tờ này cần được biến thành hành động. Người Pa-le-xtin phải bắt những kẻ khủng bố và cung cấp minh bạch hành động của chúng. Người I-xra-en không được tấn công những công dân Pa-le-xtin vô tội”.

Sáng hôm sau, người I-xra-en đã đồng ý. Sau đó là khoảng thời gian dài chờ đợi câu trả lời từ phía A-ra-phát.

Tôi đến Giê-ru-xa-lem, nơi tôi gặp các cố vấn chính của A-ra-phát thông báo với họ rằng người I-xra-en đã chấp nhận các điều khoản chúng tôi đã bàn bạc và đề nghị họ ký vào trước 4 giờ chiều. Sau đó tôi gọi cho phía Pa-le-xtin và nói rằng tôi sắp về nước. Khi đang ở trong phòng ăn tối của khách sạn, chuẩn bị rời đi, tôi nhận được một cuộc gọi từ người bạn của tôi, Xa-áp Khai, Giám đốc Tình báo của Gioóc-đa-ni, nói rằng nếu tôi có thể quay lại gặp A-ra-phát, ông ta sẽ đưa cho tôi bản thỏa thuận. Vì vậy tôi trở lại Ra-man-la.

Các sĩ quan quân sự và an ninh I-xra-en tháp tùng tôi từ khách sạn, nhưng như mọi khi, họ phải đứng cách cửa căn phòng của A-ra-phát vài trăm mét, vùng trắng tách I-xra-en khỏi khu vực chính quyền Pa-le-xtin. Trong chuyến đi này, tôi và những người tháp tùng đi trên những chiếc xe bọc thép, với đội bảo vệ ở trước và sau xe, còn chúng tôi ở giữa. Việc gặp gỡ A-ra-phát là một sự kiện trọng đại.

Khi chúng tôi đến, A-ra-phát không ra cửa chào đón tôi như mọi khi – một dấu hiệu xấu. Thái độ trên khuôn mặt ông ta khi tôi bước vào trong báo trước những điều thậm chí còn tồi tệ hơn: thái độ mà mẹ tôi thường dành cho tôi khi bà thật sự tức giận.

A-ra-phát tiếp tục trừng mắt một lúc và sau đó nói: “Tôi phải có thỏa thuận một bên với ông về bản hiệp ước này”.

“Không”, tôi trả lời ông. “Sa-rôn cũng muốn một thỏa thuận như vậy, và tôi đã nói với ông ta là không thể được. Tôi sẽ đối xử công bằng với cả hai bên. Ngoài ra, ông sẽ để rò rỉ tin này cho giới truyền thông và phá hủy bản thỏa thuận”. Tôi nói thêm.

Khi tôi nói xong, ông ta nhìn tôi, cười và nói “Đúng vậy”. Lập tức ngay sau đó, ông ta nói tiếp: “Được thôi, không có thỏa thuận một phía nào hết. Nhưng tôi muốn viết một bức thư cho ông”.

Cuối cùng, khoảng 2 giờ sáng, chúng tôi thỏa thuận xong, hay gần như thỏa thuận xong. A-ra-phát chuyển bức thư gồm ba đoạn ra ngoài để đánh máy. Sau đó, tôi bị đau lưng, vì vậy tôi nằm thẳng xuống sàn nhà. Đó là tư thế của tôi khi vị Chủ tịch Pa-le-xtin bước vào. Nhìn thấy tôi, ông nói “Ồ, tôi cũng thường làm vậy khi bị đau lưng” và nằm xuống cạnh tôi, rồi bắt đầu nói chuyện khi mũi ông chỉ cách mũi tôi 2cm.

Tôi là một trong số những quan chức cao cấp của Mỹ cuối cùng thấy A-ra-phát vẫn sống sót tại Ra-man-la năm 2002. Ông bị giam lỏng trong chính trụ sở của mình bởi xe tăng của I-xra-en. Tuy nhiên, với chức danh đang nắm giữ, ông ta vẫn là Chủ tịch của Pa-le-xtin, nên tôi vẫn đến yêu cầu ông ta cải tổ lại các cơ quan an ninh của mình – đưa ra những mệnh lệnh đơn nhất, bổ nhiệm một bộ trưởng chịu trách nhiệm, v.v.. Một lần nữa, ông ta không chào đón tôi ở cửa.

Thu Phương dịch