(Tiếp theo và hết)

Lầu Năm góc bị tấn công ngày 11-9-2001.

Song song việc bắt liên lạc với Tổng thống và những người đi cùng, chúng tôi cũng cố gắng liên lạc với văn phòng của chúng tôi ở Niu Y-oóc để sơ tán những người tại đó và cố gắng thu thập càng nhiều thông tin càng tốt. Sự bất thường hay xuất hiện trong bất kỳ cuộc khủng hoảng nào và những tiếng bíp bíp lạc lõng thì có lẽ chẳng có ý nghĩa gì trong những lúc yên bình, nhưng vào những thời điểm như thế này, lại có đầy đủ ý nghĩa của nó. Một ví dụ, người ta lần theo dấu vết của những chiếc máy bay qua bộ cảm ứng truyền tin. Mỗi chiếc máy bay phát ra một tín hiệu duy nhất. Ít nhất một trong những tên không tặc sáng hôm đó đã biết tắt bộ cảm ứng như thế nào để người ta khó có thể lần ra dấu vết chiếc máy bay của chúng. Hiện tại một chiếc máy bay hành khách trên đường trở về Anh đang phát ra tất cả các kiểu tiếng kêu, với bộ cảm ứng nhấp nháy liên tục. Có phải Al Qaeda đã mở một cuộc tấn công vào hai lục địa? Cuối cùng, vấn đề đã được sáng tỏ – không có mục đích bất chính, chỉ đơn giản là bộ cảm ứng bị hỏng. Nhưng vào lúc giao thời này tôi đã gọi cho Ri-chát Đia-lớp, đồng nghiệp của tôi ở MI-6, nói cho ông ta những gì chúng tôi đang nghe thấy và những gì chúng tôi đã biết.

Mặc dù nội bộ chúng tôi biết rằng Al Qaeda đứng đằng sau các cuộc tấn công này, nhưng chúng tôi cần có bằng chứng, vì vậy, CTC yêu cầu cung cấp danh sách hành khách của những máy bay đã bị biến thành vũ khí vào sáng hôm đó. Không thể tin được, sau đó tôi được báo cáo rằng, phản ứng đầu tiên của một vài bộ phận của bộ máy hành chính (sau này các bộ phận này được may mắn quên đi) đã có biểu hiện không hợp tác với CIA. Có những vấn đề liên quan đến cá nhân. Sau những cuộc tranh luận tế nhị và sau một vài bức thư, các bản danh sách đã được đưa ra. Một chuyên viên phân tích của CTC lao ngay về nhà máy in. “Một số tên trên một chiếc máy bay là những tên mà chúng ta đã tìm kiếm trong vài tuần qua”. Ông ta đưa ra hai cái tên cụ thể: Kha-líp An Mi-hát và Na-oa An Ha-mi. Đây là lần đầu tiên chúng tôi có bằng chứng xác đáng về điều mà chúng tôi hoàn toàn chắc chắn kể từ khi tôi nghe về các cuộc tấn công: chúng tôi đã hiểu được âm mưu của Al Qaeda.

Cũng trong thời gian đó, Phó tổng thống đã điện thoại hỏi chúng tôi dự đoán có các cuộc tấn công khác không. Sau đó, chiếc máy bay thứ tư, của United Airlines, mang số hiệu 93, đã đâm xuống San-vin, Pen-xin-va-ni-a. Đã có một khoảng thời gian tạm lắng trong các hoạt động khủng bố, và với tôi điều đó nói lên tất cả. “Không”, tôi trả lời ông ta. “Theo đánh giá của tôi thì các cuộc tấn công đã được tiến hành trong ngày hôm nay thôi”. Đó là cuộc gọi nội bộ; tôi cũng không có thông tin để nói thêm. Nhưng trong một bối cảnh hết sức khó khăn như vậy với kiểu tấn công đồng thời vào nhiều mục tiêu ngoạn mục như thế này rất phù hợp với những gì mà chúng tôi hiểu về cách làm của Al Qaeda (dựa trên những cuộc tấn công vào sứ quán Đông Phi và những cuộc tấn công khác nữa). Các sự kiện xảy ra và được tiến hành trong một khoảng thời gian hạn hẹp.

Cũng như mọi người dân ở Mỹ, tất cả chúng tôi đang làm việc với tất cả khả năng của mình. Anh trai tôi, ngẫu nhiên đang ở Oa-sinh-tơn vì công việc, gọi điện cho tôi rất sớm. Anh ấy nóng lòng muốn trở về Niu Y-oóc ngay, nơi vợ, gia đình anh và mẹ tôi đang sống. Giao thông công cộng đã hoạt động chưa? Có thể và có an toàn để bay không? Câu trả lời của tôi là không và vì thế anh đã thuê một chiếc xe và trở về nhà. Mẹ tôi rất hoảng sợ, tôi biết bà sẽ như vậy. Tôi gọi điện và nói với bà là tôi an toàn.

Con trai tôi, Giôn Mai-cơn, lúc đó đang bắt đầu học lớp chín tại Gôn-da-ga, một trường trung học thiên chúa giáo Dòng Tên, không xa đồi Ca-pi-tôn. Bộ phận an ninh của CIA đã tìm thấy cháu ở đó và đưa cháu về nhà. Mọi người dân Oa-sinh-tơn, ở vị trí như chúng tôi đều lo lắng cho con cái của mình trong một thế giới mới, bị chủ nghĩa khủng bố quấy phá. Dù Giôn Mai-cơn không thích thú, thì đây cũng là sự khởi đầu cho việc bộ phận an ninh liên tục theo sát cháu mọi nơi chừng nào tôi còn là DCI (giám đốc CIA).

Tôi và các nhân viên rời nhà máy in về trụ sở khoảng một giờ chiều hôm đó. Theo dự đoán của chúng tôi hôm nay không còn nguy hiểm nữa, và tất cả chúng tôi cảm thấy cô lập khi ở nhà máy in. Sau đó, một nhân viên cấp cao của tôi đã nói với tôi trước khi chúng tôi rời nhà máy in không lâu rằng, ông ta đã nói với một đồng nghiệp các cuộc tấn công đó sẽ được coi như một thất bại to lớn của ngành tình báo. Người đồng nghiệp nghi ngờ nhìn ông ta và trả lời đại loại như: “Tại sao đây lại là thất bại của ngành tình báo? Mọi thứ đều có thể xảy ra. Đây là một cuộc chiến tranh. Đây là một trận chiến”. Tôi cũng không biết sẽ nói gì nếu có những câu hỏi tương tự đối với tôi lúc này. Số người bị chết rõ ràng là lên tới hàng ngàn. Mũi nhọn chỉ trích đủ kiểu vào chúng tôi hay bất cứ ai đi nữa, vẫn còn là một điều rất xa lạ trong tâm trí tôi. Nhưng ở một khía cạnh nào đó, tôi cho rằng việc đổ lỗi cho nhau đã bắt đầu. Điều đó có thể không tránh khỏi. Có thể đó là cách Oa-sinh-tơn tiến hành.

Buổi chiều hôm đó trôi đi trong sự ảm đạm của các cuộc họp. Theo lịch làm việc, tôi có một cuộc họp qua điện thoại vào lúc 3 giờ 30 phút chiều trên đường dây an ninh với Tổng thống. Ông vừa đáp xuống căn cứ không quân Óp-phút ở Nê-bra-ca, sau đó vòng về Oa-sinh-tơn. Tổng thống đang nói từ trụ sở dưới mặt đất của Bộ chỉ huy chiến lược Mỹ.

Tôi nhớ ông ta đã hỏi tôi nghĩ ai đã làm việc này. Tôi trả lời ông ta cũng giống như những gì tôi đã trả lời Phó tổng thống vài giờ trước đó: Al Qaeda! Toàn bộ các hoạt động đều có hình dáng, mùi vị và tính chất của Bin La-đen, và các danh sách hành khách đã nói lên tất cả, kể cả việc khẳng định nghi ngờ của chúng tôi. Đặc biệt là khi tôi báo cáo Tổng thống về An Mi-hát và An Ha-mi, ông ta quay sang nhìn Mai Mô-ren với hàm ý: “Tôi tưởng tôi là người đầu tiên được biết”. Mai trút hết giận dữ vào cú điện thoại gọi cho trợ lý hành chính của tôi, Tét Ghi-ta-rô, người mới làm việc được hai ngày, yêu cầu được xem những tài liệu thuyết trình tôi chuẩn bị cho cuộc họp. “Không thể được”-Tét nói với ông ta: “Những tài liệu này được lệnh cấm. “Cấm cả với Tổng thống nước Mỹ hay sao?”- Mai vặc lại. Đây là một trong những lộn xộn nhỏ thường xảy ra khi mọi người phải làm việc dưới áp lực rất lớn. Trước đó, Mai đã có thể chuyển những thông tin mà chúng tôi có cho Tổng thống qua An-đi Các. Cũng trong những điểm thuyết trình của tôi chiều hôm đó có một cảnh báo mà chúng tôi nhận được từ tình báo Pháp cho biết có một nhóm khủng bố đang ở trong lãnh thổ nước Mỹ và đang chuẩn bị một làn sóng tấn công thứ hai.

Bức tường tưởng niệm công dân các quốc gia thiệt mạng trong vụ 11-9.

Trong cuộc họp qua điện thoại này, mọi người yêu cầu Tổng thống tập trung vào việc kiểm soát tình hình. Cuộc họp trực tiếp với Tổng thống vào tối hôm đó chỉ để khẳng định những cảm tưởng đầu tiên của tôi mà thôi.

Tôi đến cuộc họp sau chín giờ, Nhà Trắng là một pháo đài được vũ trang. Tôi quá bận rộn đọc các bản báo cáo nên không nhận thấy bất kỳ sự bảo vệ tăng cường nào đã được lắp đặt thêm. Ngay khi xe tôi vừa đỗ thì một mật vụ kèm tôi đi qua một lối đi dài, hẹp tới một boong-ke, tôi chưa từng tới bao giờ và cũng sẽ không bao giờ tới nữa.

8 giờ 30 phút tối hôm đó, từ Phòng Bầu dục với một giọng nghiêm nghị và quả quyết, Tổng thống đã chuyển thông điệp đến toàn quốc, bao gồm cả việc trình bày rõ ràng cái mà sau này được biết đến như là Học thuyết Bu-sơ: “Tôi đã ra lệnh cho tất cả các lực lượng tình báo và cơ quan thực thi pháp luật của chúng ta phải tìm ra những kẻ chịu trách nhiệm và đưa chúng ra trước công lý”. Tổng thống đã phát biểu trước khoảng 80 triệu thính giả trên toàn cầu. “Chúng ta sẽ không phân biệt giữa những kẻ khủng bố đã phạm tội ác này và những kẻ đã nuôi dưỡng che chở chúng”. Đối với lực lượng CIA chúng tôi, học thuyết mới này có nghĩa cuối cùng những hạn chế cũng bị xóa bỏ. Chúng tôi đã có những tấm lá chắn cho các kế hoạch hành động trong việc truy lùng cả Al Qaeda và những kẻ bảo vệ chúng ở Ta-li-ban, ở Áp-ga-ni-xtan. Bây giờ chúng tôi có thể bắt đầu thực hiện các kế hoạch này. Trong sự đau buồn của ngày hôm đó, chúng tôi nhận thấy rằng, cuối cùng chúng tôi đã được trao quyền và các nguồn lực thực thi nhiệm vụ của mình.

Sau bài diễn văn ở Phòng Bầu dục, cũng ở boong-ke đó, Tổng thống đã có cuộc họp với toàn thể Hội đồng An ninh quốc gia. Bây giờ mọi vấn đề rốt cuộc lại phụ thuộc vào nội các chiến tranh. Để truy lùng Bin La-đen và đội quân bí mật của hắn, chúng tôi phải vén tấm màn chúng đang ẩn náu ở đằng sau. Tổng thống đề nghị chúng tôi phải làm cho các nước phải có sự lựa chọn. Phó tổng thống cũng đề xuất một số vấn đề về tìm kiếm các mục tiêu đang ẩn náu ở Áp-ga-ni-xtan.

Không còn nghi ngờ gì nữa, ngày 11-9 là một tác động đột ngột trong nhiệm kỳ Tổng thống của Bu-sơ. Ông ta đã thay đổi rất nhiều mà tôi cho rằng không ai trong chúng tôi có thể đoán trước được. Sự lãnh đạo của ông sẽ rất khác trong những tháng tới.

Tối hôm đó, các nhân viên cấp cao của tôi vẫn còn đợi tôi khi tôi quay về Lang-li. Lịch làm việc của tôi ngày hôm đó kết thúc vào 11 giờ đêm. Tuy nhiên, tôi nhớ mình đã rời trụ sở vào lúc gần một giờ sáng và không còn gì khác là tắm, thay quần áo và làm một giấc ngủ. Tôi phải trở lại Nhà Trắng vào sáng sớm hôm sau. Một ngày như ngày 11-9 không bao giờ kết thúc, trừ phi tính theo thời gian.

(Trích hồi ký “Mắt bão” của Gioóc-giơ Tê-nét, nguyên giám đốc CIA)

Ngày 11-9 trong hồi ức Giám đốc CIA (Kỳ I)

THU PHƯƠNG dịch