 |
|
Trung tâm thương mại thế giới bị tấn công ngày 11-9-2001 |
Sáng 11-9-2001, một ngày đã thay đổi hoàn toàn mọi thứ. Tôi cùng đi ăn sáng với cựu thượng nghị sĩ Đa-vít Bô-ren tại tầng 16 của khách sạn St.Rê-gít trên phố K ở Oa-sinh-tơn. Lúc đó là tám rưỡi. Tổng thống đã rời thành phố đi Phlo-ri-đa, điều đó có nghĩa là không phải làm báo cáo hàng ngày cho Tổng thống. Đa-vít đã kéo tôi ra khỏi thời kỳ đen tối năm 1987 để về làm việc tại Ủy ban Tình báo Thượng viện, nơi ông ta là Chủ tịch. Buổi sáng hôm đó, như mọi khi, tôi mong được gặp ông.
Chúng tôi chỉ vừa mới bắt đầu trao đổi thì Tim Oát, người đứng đầu bộ phận an ninh của tôi ngày hôm đó, bước vào với nét mặt đầy lo lắng. Rất thích hợp với chức vụ của mình, Tim là một người bình tĩnh, kiên định, nhưng với tác phong rất khẩn trương khi anh ta ngắt lời chúng tôi, tôi hiểu ngay rằng không còn nghi ngờ gì nữa, có một vấn đề rất quan trọng. Tôi bước ra khỏi bàn và anh ta nói với tôi rằng có một chiếc máy bay đã đâm vào tháp phía nam của Trung tâm Thương mại thế giới. Tất cả mọi người, đều cho rằng vụ đâm thứ nhất là một thảm họa. Và khi chiếc máy bay thứ hai đâm vào tòa tháp thứ hai thì mọi người có thể nhận ra có một cái gì đó còn tồi tệ hơn nhiều đang diễn ra. Tôi không quá lo sợ như vậy. Tôi đã quá quen với khả năng có một cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ. Tôi cho rằng điều đó chắc hẳn phải do Al Qaeda.
Tôi báo tin đó cho thượng nghị sĩ Bô-ren. Cả hai chúng tôi phải rời đây ngay lập tức. Tôi và Tim Oát vào xe của tôi và lao về trụ sở. Tất cả những điểm ngẫu nhiên bắt đầu khớp với điều gì đang diễn ra. Tôi nhớ là trong những giây phút ấy, đầu tôi như nổ tung bởi các mối liên kết đang diễn ra trong ý nghĩ. Ngay lập tức, tôi nghĩ đến âm mưu “Bojinka” cho nổ tung 12 máy bay hành khách của Mỹ trên khu vực Thái Bình Dương và kế hoạch tiếp theo là đâm một chiếc máy bay nhỏ vào trụ sở của CIA. Âm mưu này bị phá vỡ vào năm 1994.
Thế giới an toàn của người Mỹ đã bị đảo lộn. Cuộc chiến chống khủng bố đã tới tận bờ biển của chúng tôi.
Trên đường về, tôi gọi tham mưu trưởng của tôi, Giôn Mô-xê-man, và nói ông ta tập trung các sĩ quan cao cấp trong phòng họp cạnh phòng tôi cùng với những nhân vật chủ chốt của Trung tâm Chống khủng bố. Tất cả các đường dây đều bị gián đoạn, nên rất khó liên lạc qua đường dây an ninh. Tôi đã thật sự mất liên lạc với St.Rê-gít và Lang-li. Đó là 12 phút dài nhất trong đời tôi. Cho đến khi về đến trụ sở, tôi mới nhận ra rằng chúng tôi đã lái xe với tốc độ 80 dặm/giờ, chiếc máy bay thứ hai đã đâm vào tháp phía bắc.
Khi các báo cáo đầu tiên về việc những chiếc máy bay đâm vào Trung tâm Thương mại thế giới được đưa đến, Trung tướng Ma-mút A-mét, Giám đốc cơ quan tình báo đối nội của Pa-ki-xtan (ISI) là một trong những người có thể giúp chúng tôi nhiều nhất trong việc truy lùng U-sa-ma Bin La-đen trước ngày 11-9, đang họp tại Đồi Ca-pi-tôn cùng nghị sĩ Lin-say Gra-ham, hạ nghị sĩ Pót-tơ Gốt và vài người khác. Nửa giờ sau, khi Ma-mút đang đi dọc theo đại lộ Con-ti-tu-sơn, thì ai đó đã chỉ một chùm khói đang bốc lên bên kia sông Pô-tô-mác - dấu hiệu đầu tiên chỉ ra Lầu Năm góc đã bị tấn công. Trong khi đó, Sa-phít Bin La-đen, anh trai của U-sa-ma Bin La-đen, đang dự hội nghị các nhà đầu tư hàng năm của Tập đoàn Ca-lin tại khách sạn Rít Can-tơn, cách tôi một góc phố và cách Nhà Trắng vài dãy nhà. Ba sĩ quan CIA cao cấp - Sác-li An-len, Đôn Cơ và Giôn Rút-sắc - đang cùng ăn bữa sáng tại cơ quan cùng với Chỉ huy Hải quân Kớt Líp-pôn, người đã từng là sĩ quan chỉ huy tàu USS Cole khi nó bị tấn công ở Y-ê-men. Rất tự nhiên, phần lớn cuộc thảo luận của họ chủ yếu tập trung vào chủ nghĩa khủng bố. Về sau, ba sĩ quan đó nói với tôi rằng Líp-pôn rất lấy làm buồn khi người dân Mỹ không nhận ra sự đe dọa này. Ông ta nói rằng, phải có một “sự kiện gây nên một cú sốc” để thức tỉnh dân chúng. Vài phút sau khi Trung tâm Thương mại thế giới bị tấn công, Sác-li An-len đến trụ sở và nói với Líp-pôn “sự kiện gây nên cú sốc vừa mới xảy ra”. Hết sức kinh ngạc, Líp-pôn vội vã trở về nơi làm việc đúng vào lúc nhìn thấy chiếc máy bay mang số hiệu 77 của Hãng American Airlines lao vào Lầu Năm góc.
Thậm chí cho đến bây giờ, sau nhiều năm, tôi vẫn không diễn tả nổi tâm trạng trong phòng họp. Lúc đó, tôi đoán vào khoảng 9 giờ 15 phút. Cả hai tháp của Trung tâm Thương mại thế giới đã bị tấn công, và tôi nghĩ rằng không ai trong phòng này mảy may nghi ngờ rằng chúng tôi đang ở trong cuộc tấn công toàn diện của Al Qaeda.
Chờ đón một cuộc tấn công và nó đã xảy ra - nhưng nhìn Trung tâm Thương mại thế giới bị sụp đổ - lại là chuyện khác. Vấn đề thứ nhất là sự nhận thức, hiểu biết. Vấn đề thứ hai đã nhanh chóng trở thành căn bệnh trầm kha và mức độ lo lắng trong phòng họp trong giờ đầu tiên là quá bất thường. Chỉ vài phút sau khi tháp phía nam bị tấn công, Trung tâm Chống khủng bố đã nhận được báo cáo rằng có ít nhất một máy bay phản lực chở khách còn bị mất tích. Theo báo cáo tiếp đó thì có vài chiếc máy bay không đáp lại sự liên lạc của mặt đất và có lẽ đang hướng tới Oa-sinh-tơn.
Tôi còn nhớ đã hỏi Mai-cơ Hô-phen-đơ, người đứng đầu bộ phận an ninh của tôi, về ý kiến của ông ta. Ông ta trả lời, “Chúng ta hãy ra khỏi đây”, “Chúng ta phải sơ tán”. Đó là điều bất đắc dĩ đối với tôi. Tôi không muốn mọi người trong cơ quan tôi hoặc trên thế giới lại nghĩ rằng chúng tôi đang trốn chạy. Nhưng tôi cũng không muốn liều lĩnh một cách không cần thiết với sinh mạng của các nhân viên, và như một số người trong phòng họp đã nói rõ, trong trường hợp tòa nhà bị tấn công, chúng tôi cần ban lãnh đạo còn nguyên vẹn và có thể đưa ra những quyết định.
Vào khoảng 10 giờ sáng, phần lớn trong lực lượng hàng ngàn người của chúng tôi được lệnh trở về nhà. Họ đã góp phần vào việc làm tắc nghẽn giao thông, các con đường của Oa-sinh-tơn như nghẹt thở. Nhà Trắng đã sơ tán 15 phút trước đó, ngay sau khi Lầu Năm góc bị tấn công. Tại Niu Y-oóc, gần 12.000 người tại tòa nhà trụ sở Liên hợp quốc cũng đã bắt đầu ra khỏi trụ sở vào lúc 10 giờ 13 phút. Tại Oa-sinh-tơn D.C, Bộ Ngoại giao và Tư pháp cũng bắt đầu sơ tán vài phút sau đó.
Lúc đầu, ban lãnh đạo cấp cao của chúng tôi chuyển từ phòng họp ở tầng bảy xuống tầng một – an toàn hơn một chút, nhưng vẫn dễ bị thương vong nếu như một chiếc máy bay đâm vào tòa nhà này. Sau đó, chúng tôi cùng rời tòa nhà, đi qua góc đông nam của trụ sở, đi tắt qua sân tới nhà máy in của cơ quan, nơi đã lắp đặt những thiết bị đa chức năng phục vụ cho hoạt động.
Sau khi tôi ra lệnh sơ tán, Cô-phơ Blách, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố của CIA nói: “Thưa ngài, chúng ta sẽ không sơ tán CTC bởi chúng ta cần người làm việc với hệ thống máy tính”.
“Được”, tôi trả lời, “Trung tâm Phản ứng toàn cầu – họ sẽ gặp nguy hiểm”.
“Chúng ta sẽ giữ nguyên họ tại vị trí làm việc. Họ giữ vai trò then chốt trong những cuộc khủng hoảng như thế này. Đây chính là lý do chúng ta phải có Trung tâm Phản ứng toàn cầu”.
“Nhưng họ có thể bị chết”.
“Thưa ngài, nếu không thì họ cũng sẽ chết”.
Sau khi Cô-phơ nói, tôi im lặng một lúc và nói “Ông hoàn toàn đúng”.
Hiện giờ chúng tôi đang bị tấn công, Trung tâm Chống khủng bố, với những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và hệ thống thông tin liên lạc tinh vi cần thiết hơn bao giờ hết. Thậm chí ngay cả khi chúng tôi đang thảo luận việc tiếp tục sơ tán hay ở lại, thì CTC vẫn đang phát đi lệnh báo động toàn cầu tới các trạm của chúng tôi trên toàn thế giới, ra lệnh cho họ liên lạc với các bộ phận liên lạc và các điệp viên để thu thập bất kỳ mẩu tin nào có thể. Tôi khâm phục lòng dũng cảm, sự kiên định và sự tận tụy của họ. Trụ sở của CIA là một tòa nhà được lắp đặt khá nhiều kính. Nếu như một máy bay nhằm mục tiêu vào đó thì những người trong Trung tâm Phản ứng toàn cầu chỉ còn biết chờ chết.
Ban đầu, cảnh tượng trong nhà in tương đối lộn xộn. Chúng tôi chỉ có thể truy cập hạn chế vào dữ liệu và các mạng thông tin một cách ít ỏi. Ngay lúc này tất cả chúng tôi đều nhận ra rằng chúng tôi cần bổ sung những khả năng thông tin liên lạc hỗ trợ nếu một tình huống tương tự xảy ra. Mọi người đang cố gắng làm cho hệ thống điện thoại hoạt động và liên lạc với Mai Mô-ren, người chịu trách nhiệm báo cáo tình hình của Tổng thống, đang đi cùng với G.Bu-sơ tới Phlo-ri-đa trong thời điểm chiếc máy bay đầu tiên tấn công. Mai sau đó kể lại rằng, ông ta, Các Rô-vê và A-ri Phlây-xơ, thư ký báo chí của Nhà Trắng, đang ở trên một chiếc xe của đoàn xe hộ tống thì A-ri nhận được một cuộc điện thoại và sau đó ông ta quay lại hỏi Mai xem ông ta có biết việc một chiếc máy bay nhỏ đâm vào Trung tâm Thương mại thế giới. Mai ngay lập tức gọi về cho Trung tâm Điều hành của chúng tôi và được trả lời rằng đó không phải là một chiếc máy bay nhỏ. Ngay sau đó, khi đang đợi Tổng thống kết thúc buổi gặp mặt với học sinh và giáo viên một trường tiểu học, thì Mai nhìn thấy trên ti-vi hình ảnh tòa tháp thứ hai bị tấn công. Sau đó, khi lên chiếc Không lực số một, Tổng thống hỏi Mai về một nhóm cực hữu người Pa-le-xtin, Mặt trận nhân dân giải phóng Pa-le-xtin, đang muốn thu hút sự chú ý bằng những cuộc tấn công như thế này. Mai nói rằng hình như là không phải. Đơn giản vì người Pa-le-xtin không có khả năng làm một việc như vậy. Tổng thống nghe xong rồi nói với Mai rằng, nếu như chúng tôi biết điều gì rõ ràng về cuộc tấn công, thì ông ta muốn là người đầu tiên được biết. Với mái tóc đứng, dáng vẻ trẻ trung và rất lanh lợi, Mai đi thẳng vào vấn đề ngay. Ông ta và G.Bu-sơ hiểu nhau rất nhanh. Trong một cuộc khủng hoảng như thế này, đối với chúng tôi, Mai là một người hoàn hảo để ở bên vị tổng tư lệnh.
THU PHƯƠNG dịch