Chuyển hàng vào đảo. Ảnh: NGUYỄN XUÂN CƯỜNG

Trở lại Đoàn M25,  nơi đã từng gắn bó gần 10 năm, tôi lại nhớ  Lê Hồng Thao-bạn cùng nhập ngũ với tôi, quê ở xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, huấn luyện chiến sĩ mới cùng tôi ở Cát Lái năm 1989. Lúc đó, có tới 1.300 anh chiến sĩ mới quê Quảng Bình. Sau này tôi mới biết, quê “bố Trạch, mẹ Trạch” ấy - như chúng tôi hay trêu nhau, nằm bên bờ sông Gianh là nơi đóng quân của D663-lực lượng nòng cốt đầu tiên của đơn vị vận tải quân sự 559. Nó mang một cái tên bí hiểm: “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” - cũng là tiền thân của lực lượng vận tải quân sự biển sau này. Ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn 759, là lực lượng vận tải quân sự biển - tiền thân của Đoàn M25 ngày nay.

Tôi mải mê ngắm những hiện vật  trong Nhà truyền thống. Đây là mái chèo gỗ của xuồng chở vũ khí ở Năm Căn (Cà Mau); những vỏ đạn, khẩu súng, lá thư của chiến sĩ tàu không số. Đây là cảnh thu nhỏ một góc rừng đước của U Minh kiên cường; bến đỗ hàng của Khu Năm anh dũng. Có cả mô hình các con tàu gỗ, sắt của đoàn đã đi vào huyền thoại; những bức ảnh tàu ta do máy bay địch chụp. Rất nhiều loại vũ khí, di vật… của các anh hùng, liệt sĩ. “Những con tàu bé nhỏ, chạy đua với mặt trời, lướt theo hình bán đảo, chạy đua với thời gian…” - lời bài hát về đường mòn trên biển vẳng bên tai tôi.

Di ảnh Anh hùng Phan Vinh còn đó. Khuôn mặt điển trai, đôi mắt nhìn thẳng, mở to. Anh hiền, ít nói. Bạn anh giới thiệu cho anh một cô kiện tướng đứng máy ở Nhà máy dệt Nam Định. Anh ngại, sau cũng tới gặp cô một lần duy nhất, chưa dám nói gì. Sau đó anh viết cho cô một lá thư, rồi bước vào trận đánh cuối cùng. Anh được lệnh đưa tàu 235 vào hòn Hèo (Khánh Hòa). Trước đó, tàu 56 phải quay trở lại, tàu 43 gặp địch phải hủy tàu. 18 giờ ngày 29-2-1968, tàu của anh gặp địch, máy bay địch bay theo nhưng anh vẫn quyết định cho tàu vào bến. Hồi đó, Mỹ – ngụy đã duy trì một lực lượng hải quân hùng hậu chưa từng có ở khu vực biển Đông: 2 đến 3 tàu sân bay, một chống ngầm, 3 tuần dương, gần 20 khu trục, 1 đến 2 tàu ngầm! Tàu của Phan Vinh lúc đó đã bị 7 tàu địch bao vây, định bắt sống, nhưng anh đã bình tĩnh chỉ huy tàu luôn vượt, chạy vào bến và cho thả hàng. Sau đó, anh cho tàu xuống khu vực Ninh Vân và bị địch ép, chặn trong vịnh. Tàu anh nổ súng chiến đấu quyết liệt, anh lệnh cho các chiến sĩ rời tàu, còn anh và máy trưởng Nguyễn Văn Thứ điểm hỏa các khối thuốc nổ, rồi rời tàu sau cùng. Mấy phút sau, một tiếng nổ khủng khiếp đã phá con tàu ra hàng ngàn mảnh, có mảnh hàng tạ bay lên tận bờ! Một tàu địch vào gần đó cũng bị đánh chìm. Bọn giặc kinh hoàng! Ngày nay, tên anh đã thành tên một hòn đảo trên quần đảo Trường Sa - đảo Phan Vinh.

Trong ký ức của cán bộ, chiến sĩ Đoàn M25 hôm nay còn lưu giữ một chuyện tình cảm động của Đại tá, Anh hùng Nguyễn Đắc Thắng. Bác Thắng quê ở Cần Thơ, tập kết ra Bắc năm 1954, năm 1963 về Đoàn 759. Cũng năm đó, ông được giao nhiệm vụ chở vũ khí về chính quê hương mình. Tại Cà Mau, ông quen và yêu một cô dân quân. Rồi ông trở ra Bắc, tiếp tục các chuyến khác. Đặc biệt, có chuyến vào năm 1964, cập bến Bà Rịa, chở 44 tấn vũ khí, kịp giao cho một Trung đoàn vào chiến dịch Bình Giã thắng lợi. Ông không được trở lại Cà Mau, gửi thương nhớ trong những lá thư gửi theo tàu bạn. Sau sự kiện Vũng Rô, sự liên lạc của họ bị gián đoạn do địch phong tỏa bằng chiến dịch “Macket Time”. Sau Tết Mậu Thân, ông chỉ huy tàu 43 vào Ba Làng An gặp địch, phải hủy tàu. Ông bị thương nặng, đuợc du kích địa phương chăm sóc, sau đó vượt Trường Sơn trở ra Bắc. Người con gái trong Nam nghe tin người yêu đã hy sinh, nhưng không tin và luôn nghĩ người con trai kiêu hùng ấy sẽ trở về. Thật là một niềm tin vĩ đại! Tình yêu của họ đã được đền đáp. Tháng 7-1971, Quân khu 9 thành lập Đoàn Vận tải S950, Nguyễn Đắc Thắng là một trong số các cán bộ của Đoàn 125 được giao nhiệm vụ trở lại khu 9. Ông đã gặp lại người yêu, lúc này đã là một cán bộ quân chủ lực khu 9. Cuộc tái hợp Nam-Bắc sau tám năm xa cách mang màu của hạnh phúc tái sinh và chiến công.

Quê tôi là miền biển nên có nhiều người đi bộ đội hải quân ở nhiều thế hệ. Chơi thân với tôi có Lê Văn Hải, là con liệt sĩ Lê Hồng Lân, hy sinh cùng tàu với liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu. Mẹ Hải là cô Liễu, là người cùng xã, bạn học của mẹ tôi. Khi Hải được một tuổi thì bố hy sinh. Chú Lân chưa biết mặt Hải. Cô Liễu ra thăm chú tại Hải Phòng trước ngày chú lên đường chở vũ khí vào Nam, may là chú đã biết tin vui cô có bầu. Khi tàu của chú vào Phú Quốc thì bị địch phát hiện, đánh chặn, cả tàu nổ súng chiến đấu và phải hủy tàu. Chú Lân bị thương và hy sinh ngay; số còn lại nhảy xuống nước, bị địch bắt. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu ở lại hủy tàu rồi hy sinh.  Sau khi điểm nổ tàu, ông đã rời tàu, bị thương nặng, cố bơi về bờ, nhưng kiệt sức, hy sinh và xác trôi tấp vào bãi cát đảo Phú Quốc. Sau hơn ba mươi năm, cát vùi sóng dập, nay hài cốt Anh hùng Nguyễn Văn Hiệu đã được tìm lại và đưa về an táng tại quê hương Hải Phòng… Hải khi lớn lên, đã được bác Võ Nhân Huân - khi đó là Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng Hải quân, cũng là bạn thân của bố Hải giúp đỡ vào bộ đội hải quân, nay Hải đã là thuyền trưởng...

Tôi như thấy trên cái nền mênh mông, thăm thẳm xanh của biển, hiện lên những chấm đỏ-những chấm đỏ trên bản hải đồ trong phòng truyền thống minh họa các tuyến đi của đường Hồ Chí Minh trên biển. Những chấm đỏ nối với nhau thành vòng tay trên biển Nam-Bắc. Những chấm đỏ tạo thành đường viền ký ức màu đỏ. Về miền ký ức ấy, thấy lòng mình dâng lên những nhịp sóng xúc động, thiêng liêng…

TRUNG PHƯƠNG