Vừa nhậm chức, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma ký ngay một sắc lệnh đóng cửa nhà tù Goan-ta-na-mô trong thời hạn một năm. Sự việc này đã dấy lên làn sóng phản đối từ phía các thành viên của đảng Cộng hòa Mỹ...

Căn cứ hải quân Mỹ Goan-ta-na-mô còn được gọi là căn cứ Gít-mô nằm về phía cực Nam của đảo quốc Cu-ba được thành lập từ hơn một thế kỷ nay. Goan-ta-na-mô là một tiền đồn cổ xưa nhất của hải quân Mỹ ở nước ngoài trên lãnh thổ của một quốc gia không có nền bang giao với Mỹ. Hơn trăm năm trước, Mỹ thuê vùng đất này của Cu-ba làm căn cứ tiếp liệu cho hải quân. Một trăm năm sau, Chính phủ Cu-ba nhiều lần tuyên bố là thỏa ước thuê mướn căn cứ Gít-mô là không còn giá trị nhưng phía Mỹ thì khăng khăng là vẫn còn có hiệu lực.

Năm 1898 trong cuộc chiến giữa Mỹ và Tây Ban Nha, hải quân Mỹ sau khi tấn công Xan-ti-a-gô đã rút lui về xây dựng căn cứ tiếp liệu tại Goan-ta-na-mô rộng chừng 116 km2 trên lãnh thổ Cu-ba. Ngày 23-2-1903 vị tổng thống đầu tiên của Cu-ba là Tô-mát Ét-tra-đa Pan-ma, một người có quốc tịch Mỹ, đã ký một thỏa ước với Tổng thống Mỹ T.Ru-dơ-ven cho Mỹ thuê vùng đất Goan-ta-na-mô với giá tiền thuê mỗi năm là 2.000 mỹ kim, trả bằng vàng ròng. Thời đó, trong các văn kiện, chữ Goan-ta-na-mô được viết tắt là GTMO và các binh sĩ Mỹ thường gọi ngắn hơn địa danh này là Gít-mô. Đến năm 1934, thỏa ước này được cập nhật và tiền thuê được tăng lên là 4.000 mỹ kim một năm và Mỹ cũng tiếp tục trả bằng vàng (theo thời giá, tiền thuê căn cứ Goan-ta-na-mô ít hơn một lượng vàng, khoảng 340USD mỗi tháng). Thỏa ước này cam kết giữa đôi bên Cu-ba và Mỹ rằng, Mỹ được thuê mướn vùng đất này vĩnh viễn ngoại trừ khi nào quân đội Mỹ rút đi hoặc là có sự đồng thuận của đôi bên. Đến năm 1959, có sự thay đổi bang giao giữa Cu-ba và Mỹ nên Mỹ cấm không cho các binh sĩ đi vào lãnh thổ Cu-ba. Thời gian này, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô không cho Mỹ thuê mướn thêm nhân công dân sự người Cu-ba làm việc cho căn cứ Goan-ta-na-mô. Thời có cuộc khủng hoảng chính trị giữa Cu-ba và Mỹ, Chủ tịch Phi-đen cho thiết lập một bãi mìn khá lớn và trồng một rừng cây xương rồng dày đặc dọc theo biên giới căn cứ Goan-ta-na-mô và lãnh thổ Cu-ba. Về phía Mỹ, thời Tổng thống Ken-nơ-đi, quân đội đặt 75 nghìn quả mìn dọc theo bức tường “Xương rồng”. Bãi mìn này đã được gỡ bỏ dưới thời Tổng thống Clin-tơn và thay thế vào đó là dữ liệu thám thính báo động siêu kỹ thuật.

Tháng 11-2008, theo tài liệu được đăng tải trên tờ Stars and Stripes của quân đội Mỹ, từ năm 1959 đến nay, Chính phủ của Phi-đen Ca-xtơ-rô (hiện nay là Ra-un Ca-xtơ-rô làm Chủ tịch) chỉ sử dụng có một lần số tiền thuê này. Tất cả các phiếu trả tiền thuê căn cứ Goan-ta-na-mô đều bị Phi-đen vứt trong hộc bàn làm việc và không hề được ký thác vào ngân hàng. Điều này đồng nghĩa với việc Cu-ba không nhận tiền thuê.

Goan-ta-na-mô là một địa danh ít người biết tới trên thế giới và người Mỹ cũng không mấy chú ý đến căn cứ này. Tuy vậy, trong hai thập niên trước đây, trại Gít-mô là trại tạm giam những người Ha-i-ti vượt biển sang xin tị nạn tại Mỹ nhưng không được Mỹ chấp nhận trước, trả về nguyên quán. Goan-ta-na-mô chỉ được người Mỹ và thế giới biết đến nhiều kể từ khi chính phủ của Tổng thống Bu-sơ dùng để giam các nghi phạm khủng bố trong chiến cuộc tại Trung Đông. Trại tù Goan-ta-na-mô là khối ung thư mà chính quyền của Tổng thống Bu-sơ chần chừ trong việc cắt bỏ. Vấn đề nan giải là vai trò hỗ trợ của trại tù Goan-ta-na-mô khó có thể đánh giá một cách đầy đủ thì những tai tiếng mà trại tù này gây ra lại quá nhiều. Những cáo buộc về sự ngược đãi tù nhân tại đây và tại I-rắc đã góp phần làm xói mòn uy tín của chính quyền Tổng thống Bu-sơ. Nhiều tổ chức phi chính phủ đã bày tỏ lo ngại rằng, hoạt động của trại tù Goan-ta-na-mô đã vi phạm công ước Giơ-ne-vơ về tù nhân.

Trong sắc lệnh đóng cửa trại tù Goan-ta-na-mô do Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma ký ban hành ngày 22-1-2009, phần 2, tiểu mục (c) có ghi rõ: “Những cá nhân hiện đang bị giam tại Goan-ta-na-mô có đặc quyền theo hiến pháp quy định. Phải được xét xử rằng, chính phủ có quyền giam giữ người đó hay không”.

Phần lớn những tù nhân bị giam giữ trong trại giam Goan-ta-na-mô khắc nghiệt nhất nước Mỹ đều là những người bị tình nghi là thành viên của các tổ chức khủng bố Ta-li-ban và Al Qaeda. Trại tù này được thành lập sau biến cố 11-9-2001. Mục đích của trại tù Goan-ta-na-mô, cũng như một loạt cơ quan khác ra đời sau sự kiện 11-9 là hỗ trợ cho cuộc chiến chống khủng bố do Tổng thống Bu-sơ khởi xướng. Từ đó đến nay, Goan-ta-na-mô là nơi giam giữ nhiều trăm nghi phạm bị bắt trong các chiến dịch của quân đội và tình báo Mỹ trên khắp thế giới. Đa số những tù nhân này đã bị giam nhiều năm nhưng vẫn không được đem ra xét xử và không có cơ hội tiếp cận với luật sư và người của thế giới bên ngoài.

Tình trạng giam giữ quá khắc nghiệt đã dẫn tới nhiều vụ tuyệt thực và tự tử. Tháng 6-2006, ba nghi phạm bị giam tại Gít-mô đã dùng các khăn trải giường thắt cổ tự tử và họ đã chết. Cả ba người đều để lại thư tuyệt mệnh nhưng quân đội Mỹ không công bố nội dung và không ai biết các nghi phạm đã nói gì trước khi tự tử. Một trong ba nghi phạm là một chỉ huy cao cấp của mạng lưới khủng bố Al Qaeda. Một người khác cũng thuộc tổ chức Al Qaeda và đã tham gia một cuộc nổi loạn trong tù và người thứ ba là thành viên của một nhóm khủng bố khác. Các tổ chức nhân quyền cho rằng, những cái chết này phản ảnh tâm lý tuyệt vọng của chừng 360 nghi phạm còn bị giam tại Gít-mô trong nhiều năm mà không được xét xử. Do đó, cộng đồng quốc tế tăng áp lực đòi Mỹ đóng cửa trại tù Gít-mô. Tổ chức Ân xá quốc tế cho rằng, những vụ tự sát này là kết quả đáng lo ngại và trại tù Gít-mô là “Bản cáo trạng” đối với sự tuân thủ nhân quyền của Mỹ. Riêng Tổ chức Nhân quyền của A-rập Xê-út thì nghi ngờ rằng, cái chết của các tù nhân là có thể họ đã bị tra tấn. Bởi vì “Không có bất kỳ quan sát viên độc lập nào được phép vào trại giam, vì thế người ta có thể gây tội ác một cách dễ dàng”. Đó là lời phát biểu của Mút-phê An Qua-ta-mi, Phó giám đốc Tổ chức Nhân quyền A-rập Xê-út.

Phía Mỹ, Phó đô đốc Ha-ry Ha-rít, vị tướng chỉ huy căn cứ Goan-ta-na-mô, thì tuyên bố về việc tự sát này rằng “Họ (tù nhân) là những người không tôn trọng đời sống của chính họ và ngay cả chúng tôi. Không phải họ tuyệt vọng mà là hành động chiến tranh chống chúng tôi. Họ sẵn sàng làm tất cả để trở thành người tử vì đạo”.

Tháng 9-2005, 131 tù nhân đã tuyệt thực tập thể trong nhiều ngày. Khi các bác sĩ nhận thấy sức khỏe của họ bị suy kiệt trầm trọng thì nhân viên nhà tù áp dụng biện pháp “cưỡng bức” ăn uống, bằng cách trói các tù nhân vào ghế và nhét ống bơm thức ăn từ mũi đến dạ dày. Các tù nhân tuyệt thực được “cho ăn” bằng biện pháp này trong suốt 10 tháng và không có ai bị chết. Các cấp chỉ huy trại tù Goan-ta-na-mô cho đó là biện pháp “an toàn và nhân đạo” đã được sử dụng trong các nhà tù dân sự của Mỹ.

Theo một bản tường trình của nhóm “Reprieve”, tức tổ chức Reprieve Organization, một tổ chức bất vụ lợi chuyên hoạt động chống án tử hình tại Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới, tại Goan-ta-na-mô có đến hơn 60 tù nhân vị thành niên bị giam chung xà lim và bị đối xử như các tù nhân trưởng thành. Đó là điều vi phạm công ước quốc tế về tù nhân lẫn chính luật pháp của Mỹ.

Tại trại tù Goan-ta-na-mô đã có nhiều vụ mưu toan tự tử xảy ra. Một tù nhân người Ba-ranh, tên Giu-ma Đô-sa-ri, người được cứu sống sau nhiều lần tự tử, trong thư gửi cho luật sư của mình đã nói tự tử là cách duy nhất để cho công luận thế giới quan tâm đến nhà tù Goan-ta-na-mô. Tại Mỹ, Ken Rô-thơ, nhà lãnh đạo tổ chức “Theo dõi quyền con người” ở Niu Y-oóc thì nhận định rằng: “Bị giam trong nhà tù Goan-ta-na-mô là những cái chết được báo trước, khi con người bị giam giữ không đúng luật và không thấy lối thoát ở cuối đường hầm”.

Ngày 19-5-2008, Liên hợp quốc đã lên án việc giam giữ tù nhân tại Goan-ta-na-mô và khẳng định rằng Mỹ đã vi phạm lệnh cấm tra tấn tù nhân và đòi phải đóng cửa nhà tù Gít-mô. Các vị nguyên thủ của Đức, Đan Mạch và ngay cả đồng minh thân thiết của Mỹ là Anh, cũng nằm trong danh sách kêu gọi Mỹ dẹp bỏ trại tù Goan-ta-na-mô.

Trên phương diện pháp lý, việc xét xử các nghi phạm hiện đang bị giam tại trại tù Goan-ta-na-mô có nhiều yếu tố rất khó khăn và chưa ai biết rằng những nhà làm luật và các cố vấn pháp lý của Tổng thống Ô-ba-ma sẽ giải quyết như thế nào. Khi một nghi phạm khủng bố từ trại tù Goan-ta-na-mô được đem ra xét xử công bằng theo quy định trong Hiến pháp Mỹ, nghi phạm đó sẽ có luật sư biện hộ, có nhân chứng và bồi thẩm đoàn. Trong khi, nhân chứng là một việc rất khó khăn bởi lẽ những người này bị bắt, bị giam vì tình nghi hoạt động khủng bố là do tin tức từ các cơ quan tình báo, các điệp viên, mật báo viên, hoạt động bí mật khắp nơi trên thế giới cùng các bản điều tra do quân đội tiến hành. Còn nếu có nhân chứng, thì những mật báo viên, điều tra viên, các điệp viên phải ra tòa làm chứng thì đồng nghĩa với việc họ phải tự lột mặt nạ để trình làng về các bí mật của tình báo. Đây là điều không thể thực hiện được.

Trong quá khứ, bởi những lỏng lẻo về chứng cứ và tính báo mật cao của tình báo, các ủy ban quân sự xét xử các nghi phạm đã bị các nhóm hoạt động về nhân quyền chỉ trích nặng nề. Thậm chí, nhiều luật sư biện hộ, công tố viên đã từ chức để phản đối vì những nguồn tin tình báo, cáo buộc một nghi can không có chứng tích rõ ràng để có thể truy tố nghi can. Do đó, để đóng cửa trại tù Goan-ta-na-mô, hệ thống pháp lý Mỹ phải được thay đổi.

TRẦN LONG (tổng hợp)