Trong phòng giam oi bức ở nhà tù Côn Đảo vào một đêm tháng 2-1971, tôi nằm co quắp, thao thức. Tiếng thở nặng nề, tiếng rên khe khẽ và những lời ú ớ mê sảng của những tù nhân sau một ngày bị hành hạ tạo ra những âm thanh đặc trưng của chốn địa ngục trần gian. Lâu lâu, những cánh cửa sắt nặng nề ken két kêu lên. Chắc lại thêm một người bị ném vào phòng sau khi tra tấn? Đã hơn ba năm rồi, tôi đã quen với những âm thanh như thế. Và cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, tôi lại miên man nhớ về Xứ Quảng.

Xứ Quảng, nơi tôi từ biệt vội vàng đi kháng chiến, ký ức tuổi thơ tôi không có những cánh đồng xanh mượt ngô khoai, không có khói lam êm ả lúc ban chiều và chú mục đồng chăn trâu thổi sáo. Xứ Quảng trong tôi là những rào thép gai chi chít ngang trời, tiếng đạn bom xé nát màn đêm. Xứ Quảng quê tôi là lửa khói, nước mắt và máu loang khắp chốn ruộng đồng. Xứ Quảng mặn mòi quê tôi là thế, láng giềng thương nhau chia từng con tép, mớ rau; nhưng giặc đến có tiếc chi thân xác. Nhà tôi ở thôn Quang Hiện, xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn là một trong những cơ sở cách mạng của Thành ủy Đà Nẵng. Tại đó, các đồng chí Thành ủy đã tổ chức nhiều cuộc họp kín, đưa người về huấn luyện công tác cách mạng, chỉ đạo phong trào đấu tranh của nhân dân. Ngay tại ngôi nhà bé nhỏ này, tôi đã học những bài học đầu tiên về lý tưởng Cộng sản, hiểu thêm về nỗi đau mà quê hương đang gánh chịu. Năm 1959, giặc lê máy chém khắp nơi thực hiện Luật 10-59 của Ngô Đình Diệm. Đất Điện Hòa thêm một phen nhuốm máu.

Hết kháng chiến 9 năm thời chống Pháp, cha tôi lại đi đánh Mỹ. Năm anh em tôi với mẹ ở nhà cũng cuốn vào cuộc chiến. Các anh tôi lần lượt xung phong tham gia Quân giải phóng. Anh cả làm Bí thư chi bộ xã, bị địch bắt, tra tấn đến chết. Chúng buộc xác anh sau xe tăng kéo đi khắp xã. Anh thứ nhì xung phong vào Quân giải phóng hy sinh năm 1962. Anh Tam ở Sư đoàn Sao Vàng tham gia nhiều trận đánh diệt được 4 xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay rồi hy sinh trong trận phá cầu Trà Bồng. Ở nhà còn lại mẹ, anh Vân và tôi. Anh Vân thì biền biệt suốt ngày đêm lo hoạt động trong tổ chức Liên hiệp Thanh niên Quảng Đà. Tôi lo đi học. Một mình mẹ tôi tần tảo nuôi cả nhà. Gia cảnh nhà không lấy gì làm dư dật, nhưng mẹ tôi vẫn lo chu tất việc nhà, lại còn đào hầm bí mật trong buồng để nuôi giấu các cán bộ Thành ủy Đà Nẵng. Một hôm vừa tan học, tôi bỗng nghe có tiếng kêu thất thanh: “Nó đốt xóm Phái Nhì, lửa bốc cao ở mạn nhà bà Nhứt”. Nghe vậy tôi nhảy vọt qua cổng. Thầy giáo đuổi theo giữ lại. Tôi giằng ra chạy tiếp. Chạy được một đoạn thì gặp chị Liễu người cùng xóm hớt hải chạy tới báo cho tôi biết: “Ba chú cán bộ dưới hầm bí mật nhà cháu bị địch khui hầm đã lao lên chiến đấu và hy sinh rồi. Chúng bắt mẹ cháu và thiêu trụi nhà cửa rồi”. Gặp mấy cô bác, ai cũng ngăn tôi, khuyên tôi không nên về. Nhưng tôi một mực: “Em phải về ngay để coi mẹ em ra sao đã”. Vừa lúc đó, tên thôn trưởng nhìn thấy tôi, hắn hét lên:

- Thằng Hồng! Thằng Việt cộng con! Bắt lấy nó. Phải diệt tận gốc trốc tận rễ, ơi bọn bay!

Nghe vậy, tôi nhảy qua hàng rào, phóng tắt qua vườn, chạy như bay trở ra. Bọn lính nã đạn và đuổi theo nhưng không bắt được tôi. Tới Hà Thanh tôi gặp chị Liễu cũng hớt hải chạy ngược lại. Thấy địch vẫn đuổi theo, chị dẫn tôi chạy rẽ sang lối khác rồi ấn vào buồng của một nhà người quen. Hôm sau, chị dẫn tôi ra Đà Nẵng, đến nhà ngoại. Đêm đêm tôi nằm yên bên ngoại, nghe ngoại nhắc đến những kỷ niệm về ba mẹ và các anh tôi. Cuối mỗi câu chuyện, ngoại thường chép miệng thở dài… Tôi thương ngoại lắm nhưng chẳng nói nên câu nào… Ở nhà ngoại ít lâu, các cô chú báo cho tôi biết anh Vân đã trốn khỏi trại giam trở lại hoạt động và hy sinh ở Hòa Tiến trong một chuyến công tác về Đà Nẵng. Trước đó hai hôm, ba tôi cũng hy sinh trong một trận chống càn. Mẹ tôi thì bị giặc tra tấn dã man, khoét mắt. Bà đã được quân ta giải cứu và đưa ra vùng giải phóng chữa trị, tiếp tục hoạt động cách mạng (và sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng)… Ứa nghẹn trong tim nỗi đau quá lớn, nhưng tôi không khóc, không thể để nước mắt tuôn rơi giữa lúc này.

Năm đó, tôi 14 tuổi được giao làm tổ trưởng tổ biệt động trẻ thành Đà Nẵng. Tổ gồm 3 người: Thiện, Hà và tôi. Tôi tin cậy và quý mến cả hai người bạn, hai dũng sĩ trẻ măng. Một lần, tổ tôi có trách nhiệm đón một cán bộ cao cấp của mặt trận giải phóng vào ém sẵn trong thành phố, đó là chú Hồ Nghinh, người trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công nổi dậy thành Đà Nẵng trong dịp Tết Mậu Thân. Hôm đó tôi chở chú Hồ Nghinh và Hà tới gần khu chợ bên sông Hàn thì bị một tên thiếu úy cảnh sát gọi giật lại. Tôi lờ đi và quay luôn xe vào phía chợ, tìm cách đối phó. May sao lại gặp Thiện chờ sẵn ở đó. Thực là một dự đoán chính xác đến bất ngờ. Đáng lẽ Thiện giao chú Hồ Nghinh và Hà cho tôi rồi mới cho xe chạy về phía đường Hùng Vương nhưng thấy toán cảnh sát có ý ngăn cản sự di chuyển của tôi nên Thiện cho xe vòng vèo vào đây đón lõng. Cậu ta đoán thế nào tôi cũng phải lách xe vào đây. Tôi giục chú Hồ Nghinh qua xe honda của Thiện, đoạn quẹo xe chở Hà ra phía bờ sông Hàn để đánh lạc hướng bọn cảnh sát. Bọn chúng cũng chẳng vừa. Từ xa, tên thiếu úy đã dẫn lính chạy về phía chúng tôi. Không mấy chần chừ, Hà nhảy xuống xe chạy lên vỉa hè, lấy súng từ đáy giỏ bắn gục hắn. Bọn chúng vội quay lại đối phó với Hà. Thừa cơ hội đó, Thiện chở chú Hồ Nghinh phóng xe đi an toàn. Tôi chạy tới hỗ trợ cho Hà. Nhưng một tiếng nổ vang. Hà bị thương ngã xuống lề đường. Cô mở chốt lựu đạn, ném vào đám lính đang đuổi theo. Hai tên cảnh sát bỏ xác tại chỗ. Nhưng Hà đã nhắm mắt, lịm đi. Bọn chúng lại quay sang đuổi bắt tôi. Vừa luồn lách trên đường phố tôi vừa bắn trả, và đến khu Nại Hiên tôi được bà con cứu thoát. Một đêm sau trận Mậu Thân, tôi được phân công ở lại hoạt động hợp pháp để xây dựng cơ sở vũ trang tiếp tục đánh địch. Đang suy nghĩ về kế hoạch hoạt động, tôi nghe có tiếng gõ cửa, đúng với lối tín hiệu qui ước. Tôi bước ra, tháo chốt cửa, nhưng chưa vội mở mà cất tiếng hỏi. Chưa dứt lời cánh cửa đã bị đạp tung và thấy 3 ngọn đèn pin sáng lóe rọi thẳng vào mặt.

- Lê Nguyên Hồng, mi bị bắt!

Chúng khóa tay tôi lại. Biết không thể chạy thoát nên tôi không kháng cự.

Ngoại tôi nghe tiếng động lật đật chạy ra, la toáng lên:

- Không được bắt cháu tau. Răng mấy ông lại bắt nó?

- Có tội thì bắt!

- Tội gì? - Ngoại tôi không chịu lép, sấn sổ lao tới toan giữ tôi lại - Hắn mắc tội chi? Chứng cớ mô?

- Đ.mẹ! Mụ già muốn chết à?

Chúng xô ngoại tôi ngã dúi xuống bậc thềm. Tôi biết tính ngoại tôi, đừng hòng dọa bà. Tính mẹ tôi cũng như vậy. Tôi vội nói với ngoại:

- Mấy ổng bắt con lên đồn thì con lên. Con có làm điều gì xấu xa nên tội đâu mà ngoại sợ!

Bọn cảnh sát dã chiến và bọn lính ngụy đã hùng hổ đẩy tôi ra cửa. Tới trại thẩm vấn Thanh Bình thuộc an ninh quân đội ngụy, chúng đánh tôi một trận phủ đầu rồi tống vào xà lim. Hôm sau chúng lại bắt đầu đánh và hỏi cung. Tôi nghiến răng chịu đựng. Nhiều lúc tỉnh dậy giữa xà lim tôi thầm mỉm cười là mình vẫn sống.

Một hôm chúng dẫn tôi lên phòng hỏi cung. Tôi chột dạ khi thấy Đào Duy, người chỉ huy trực tiếp của tôi đã ngồi ở đó. Duy từng ăn ở tại nhà ngoại tôi nhiều ngày. Sau mấy câu gặng hỏi của tên trung úy hỏi cung, tôi xác định Duy chính là tên phản bội. Duy động viên tôi thành khẩn khai báo các cơ sở tôi biết và nơi cất giấu vũ khí để được khoan hồng. Tôi liền lợi dụng tình thế này tấn công tên phản bội: “Chú là thủ trưởng của cháu. Chú giao việc cho cháu. Những việc cháu làm thì chú biết cả rồi. Còn việc chú làm có bao giờ cháu được biết đâu. Chú bắt cháu khai báo thay cho chú thì cháu làm sao được! Như chú đã nói với cháu, chú phụ trách nhiều lưới, nhưng lưới nào chỉ biết lưới ấy, nguyên tắc không được biết tràn lan kia mà”. Quả nhiên, ngón đòn của tôi điểm trúng huyệt. Tên trung úy đánh tôi gãy một xương sườn và hai cái răng. Chúng ghép tôi vào loại “hết khung” rồi, chuyển tôi từ nhà tù an ninh quân đội đến Ty Gia Long, đến Kho Đạn và cuối cùng đày tôi ra Côn Đảo.

Ở Côn Đảo, tôi hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh với địch chống làm khổ sai, chống chào cờ, đòi cải thiện dân sinh, dân chủ. Ban lãnh đạo đấu tranh chú ý đến tôi, vận động cho tôi làm công việc hốt phân cho các phòng giam để qua đó làm nhiệm vụ thông tin liên lạc. Một lần, có anh ở bệnh xá trạm 5 nhận thư qua tôi, do sơ hở thế nào để bọn trật tự phát hiện. Anh này bị tra tấn đã khai ra tôi. Thế là chúng bắt tôi ngay và tra tấn suốt bảy ngày liền. Tôi cắn răng chịu đựng đau đớn. Tôi còn lợi dụng cơ hội này để đánh bọn phản bội. Nhân một lần bị tra tấn, tôi làm như không chịu nổi đành phải khai:

- Thưa ông, tin tức tôi viết trong mảnh giấy là do anh Lê Túc, đại diện phòng giam nói với tôi. Tôi viết lại cho người bạn tù biết để họ phấn khởi.

Lê Túc, một tên chiêu hồi đã góp công cho bọn cai ngục bắt bớ, đánh đập anh em tù nhân ở Côn Đảo, bị thất sủng từ đó. Còn tôi bị giam một tháng trong hầm biệt lập rồi được đưa về Trại Ba… Ở Côn Đảo thông thường khi có đường dây liên lạc đang dùng bị lộ thì lập túc trạm dừng hoạt động, chuyển sang sử dụng đường dây liên lạc khác. Nhưng lần này ban lãnh đạo nắm chắc tôi không khai báo nên vẫn tiếp tục sử dụng đường dây liên lạc cũ. Ở nơi muôn ngàn nguy hiểm này, tôi rất mừng là mình được đồng đội tin yêu. Tôi còn nhớ như in, ngày 22 tháng 1 năm 1969, chúng lập tòa án quân sự để xét xử ba mươi tử tù chính trị. Phiên tòa hôm đó do tên đại tá Cách làm chánh án. Buổi kêu án này cũng chỉ là trò bịp bợm. Tên thiếu tá công tố hăm hở đọc cáo trạng. Hắn đọc vanh vách những việc tôi đã làm, như trinh sát căn cứ Mỹ đóng trên bờ sông Hàn, khống chế bến Đò Xu, ngăn chặn đường lưu thông huyết mạch của chúng từ căn cứ vào Đà Nẵng, đánh bom khách sạn, giết hàng chục lính Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa, đột nhập chi khu cảnh sát… Sau khi liệt kê tội trạng, hắn kết án tôi 20 năm tù giam. Hắn chưa ngừng lời, tôi đứng phắt dậy nói:

- Cảm ơn ông công tố đã nêu khá đầy đủ những chiến công diệt Mỹ của tôi. Đối với người Việt Nam chúng ta, đó không phải là tội trạng mà là công trạng. Tôi không có tội. Tôi là người yêu nước chống Mỹ, bảo vệ quê hương.

Đoạn, tôi dõng dạc đọc bốn câu thơ:

Ruộng ta chúng đốt chúng cày.

Nhà ta chúng phá, chúng xây bốt đồn.

Ta không muốn làm nô lệ, không muốn làm bạn chiến tranh.

Nhưng rồi chúng cậy đao binh. Bắt ta khuất phục, ta đành chịu sao?

Tôi phanh áo chỉ vào ngực mình nói tiếp:

- Tôi sẵn sàng nhận mọi mức án, kể cả tử hình. Có gan các ông cứ bắn tôi đi!

Nhiều bà con chứng kiến phiên tòa hôm đó đã khóc vì thương chúng tôi còn quá trẻ mà đã bị địch kết án 20 năm tù khổ sai. Tôi vui vì có dịp nói với bà con mình và vạch trần bộ mặt lố bịch của bọn giặc… Sau đó, tôi không nhớ mình đã bị bao nhiêu trận đòn, bị bỏ đói, bị tống vào biệt giam… bao nhiêu lần. Nhớ chăng là hình ảnh cha, các anh và mẹ, là xứ Quảng quê tôi quay quắt trong lòng. Và nhớ chăng là những bạn tù, những đồng chí sống nơi địa ngục vẫn sắt son tình người…

Thấm thoát tôi ở lao tù Côn Đảo đã 3 năm. Đêm ấy tôi thổn thức vì đúng là ngày thành lập Đảng, 3-2-1971. Khi nghe tín hiệu gõ moóc từ phòng bên, tôi biết mình đã được chi bộ T8Y5 xét kết nạp vào Đảng. Tôi đã trở thành người của Đảng chính ở nơi ác liệt hiểm nguy giữa lòng địch. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: giá giờ này có mẹ ở bên, tôi sẽ sung sướng biết bao khi được nói lên niềm vinh quang này với mẹ! Tự nhiên nước mắt tôi cứ thế tuôn trào…

Lê Nguyên Hồng (Giám đốc sở TDTT thành phố Đà Nẵng)