LTS: Tại một ngôi đền ở Bắc Ninh, hiện có cuốn ngọc phả ẩn chứa nhiều thông tin mới về tổ tiên ta trong thời đại Hùng Vương. Tác giả Phạm Thuận Thành là người địa phương đã dịch và giới thiệu cuốn ngọc phả này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận được ý kiến của các học giả, nhà nghiên cứu, bạn đọc bổ sung, làm rõ vấn đề này...

Đền Bình Ngô (An Bình, Thuận Thành, Bắc Ninh) thờ 18 đời Hùng Vương là di tích quan trọng đã được xếp hạng quốc gia. Bản ngọc phả (thần phả, thần tích) dài 5.412 chữ Hán do Dưỡng Trai Nguyễn Tá Chính soạn thời Tự Đức còn truyền lại đến ngày nay. Nội dung bản Ngọc phả Bình Ngô này có nhiều thông tin mới về thời Hùng Vương, thời kỳ nhà sử học Ngô Sĩ Liên phụng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư đã đưa dã sử vào phần Ngoại kỷ để lịch sử dân tộc thống nhất, liên tục từ thời cổ đến thời Lê (khi soạn sách, gọi là Bản kỷ).

Đền Bình Ngô ở Bắc Ninh hiện nay.

Về người soạn ngọc phả, Dưỡng Trai Nguyễn Tá Chính là nhà khoa bảng danh tiếng, đỗ Hoàng giáp khoa thi 1844 thời Thiệu Trị, làm quan đốc học Hải Dương. Ngoài bản Ngọc phả Bình Ngô, ông còn lại tác phẩm là Văn bia chùa Trấn Quốc bên bờ Hồ Tây (Hà Nội). Ông người làng Bình Ngô, là người đức độ, quan tâm đến văn hóa phong tục quê hương, còn được dân truyền tụng nhiều câu chuyện đẹp về lối hành xử lễ nghĩa. Ông còn con cháu ở quê Bình Ngô và học hành thành đạt.

Về lý do Hùng Vương định đô ở núi Nghĩa Lĩnh (Phong Châu) là do chọn được đất có phong thủy đẹp, thế đại dài lâu: Dãy Tam Đảo là tả thanh long; dãy Tản Viên là hữu bạch hổ; sông Bạch Hạc là nội minh đường; sông lớn huyện Nam Xương là trung minh đường; Biển Đông là ngoại minh đường.

Về thứ đại Hùng Vương 18 thì đời Kinh Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất, người định đô ở Nghĩa Lĩnh, lập nước Văn Lang; Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ hai; Hùng Duệ Vương là Hùng Vương thứ 18. Các đời Hùng Vương đều có miếu hiệu theo nghi thức hoàng đế. Kinh Dương Vương miếu hiệu là Hùng Dương Vương cao hoàng thái tổ đại bảo đức tôn hoàng đế. Lạc Long Quân là Hùng Hiền Vương, miếu hiệu là Cao hoàng thái tổ quang hưng hoàng đế. Hùng Duệ Vương miếu hiệu là Thiên tôn minh vương hoàng đế.

Về bào thai trăm trứng nở ra trăm con trai của Lạc Long Quân và Âu Cơ do có thần tiên đến giúp đặt tên con và phân thứ bậc. Con trưởng được lập làm thái tử, sau kế vị là Hùng Quốc Vương, miếu hiệu là Thượng kim cao tôn quang triều hoàng đế. Các con thứ có tên gọi và thứ bậc rõ ràng. Một trăm con trai Lạc Long Quân do đó không phải là tổ của Bách Việt vì khi Kinh Dương Vương lập nước đã có dân sẵn rồi, và có dân thì mới có vua, chẳng lẽ làm vua một mình. Làm vua thì có triều đình riêng, có quan văn võ. Trong số họ không phải ai cũng là hoàng tử con vua, mà là người được tuyển lựa từ dân lên giúp việc vua. Và do đó Kinh Dương Vương cũng không phải là thủy tổ Bách Việt mà chỉ là thủy tổ các Hùng Vương thôi. Một trăm con trai tên gọi đều có chữ Lang ở sau, như Quỳnh Lang, Hoàng Lang, Thái Lang... Con trưởng kế vị ở kinh đô, con thứ được phân đất ở các địa phương (50 con về miền biển, 50 con về miền núi). Đây là mô hình phân phong sơ khai giống như Nhà Chu ở phương Bắc.

Về hai công chúa của Hùng Duệ Vương có tên gọi là Mỵ Châu Tiên Dung và Mỵ Nương Ngọc Hoa. Như vậy Mỵ Châu là có ý chỉ công chúa trưởng, Mỵ Nương có ý chỉ công chúa thứ. Do đó Mỵ Châu không phải là tên gọi chính của công chúa con vua An Dương Vương. Nhưng có thể vua An Dương Vương chỉ có một công chúa nên chỉ có Mỵ Châu, không có Mỵ Nương và gọi Mỵ Châu là đủ phân biệt ngôi thứ rồi.

Một số trang của cuốn ngọc phả.

Về nỏ thần không phải bắt đầu từ An Dương Vương, mà hai bảo khí kiếm thần, nỏ thần trấn quốc có từ thời Hùng Duệ Vương. Thục Vương khi chiếm giữ đạo Ai Lao đã nhiều lần đem quân đánh Duệ Vương nhưng đều thất bại vì hai bảo khí này của Duệ Vương. Sau khi gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh, Duệ Vương đã già, được Sơn Tinh báo vận số họ Hùng đã hết và khuyên nên nhường ngôi cho Thục Vương rồi cùng đi tu tiên bất sinh bất diệt. Duệ Vương bằng lòng nhường nước và truyền lại hai bảo khí kiếm thần, nỏ thần cho Thục Vương. Thục Vương cảm động đến Nghĩa Lĩnh lập hòn đá thề giữ nước và thờ cúng họ Hùng như là thái tử kế vị của Hùng Vương. Nỏ thần là bảo khí trấn quốc nên khi bị Trọng Thủy phá hỏng thì An Dương Vương đã mất nước.

Như vậy, ngay từ thời phong kiến đã có học giả có cách nhận định khác lạ về thời Hùng Vương, đặc biệt là thống nhất 18 đời Hùng Vương khởi từ Kinh Dương Vương đến Hùng Duệ Vương. Chi tiết nỏ thần do Duệ Vương truyền cho Thục Vương, đồng nghĩa là truyền nước cho cũng rất mới mẻ.

Bản Ngọc phả Bình Ngô đã được nhà nho Lý Thanh phiên âm và dịch ra quốc ngữ, hiện do Ban quản lý di tích đền Bình Ngô quản lý. Đây thực là một tư liệu Hán Nôm quý hiếm và độc đáo cần được khai thác tốt hơn.

Bài và ảnh: PHẠM THUẬN THÀNH