Khẩu đội pháo 85 của “Xê Gái” Ngư Thuỷ luyện tập SSCĐ năm 1968

Những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt, đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy (Quảng Bình) được quân-dân địa phương trìu mến gọi là “Xê Gái”. Các chiến sĩ pháo binh “Xê Gái” anh dũng kiên cường, chiến đấu hàng trăm trận, bắn chìm và làm bị thương hàng chục tàu chiến Mỹ-ngụy, được Bác Hồ gửi thư khen và được Nhà nước tuyên dương “Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân”… Chuyện ấy đồng bào đồng chí cả nước và bạn bè quốc tế đều biết. Nhưng nhiều chuyện tình cảm của các o “Xê Gái” thì vẫn được giữ kín đến nay. Một trong những chuyện tình cảm động ấy là mối tình của chị Trần Thị Thản, Chính trị viên “Xê Gái”.

Chị Thản kể: Từ khi thành lập Đại đội pháo, chúng tôi được tiểu đoàn 7 của trung đoàn 270 pháo binh quan tâm và cử đại đội 9 trực tiếp “đỡ đầu”, huấn luyện. Trận địa đại đội 9 đóng ở Ngư Thủy Bắc, đã nhiều lần bắn cháy tàu chiến địch cả ban đêm nên chúng tôi rất khâm phục. Nói thật, nhiều cô pháo thủ đã thầm yêu trộm nhớ các chàng pháo binh đẹp trai, khỏe mạnh như thanh niên vùng biển. Sau giờ hướng dẫn chung về cách lấy tầm, hướng, cự ly, bắt mục tiêu là đến giờ… huấn luyện riêng. Trong chiến đấu, họ không quản hiểm nguy, nhiều lần bị bom, bị đạn từ pháo hạm địch vùi trận địa nhưng vượt lên tất cả là tinh thần lạc quan yêu cuộc sống. Biết một số anh chị có tình ý với nhau, đồng chí Mai Xuân Phấn lúc bấy giờ là Chủ nhiệm chính trị của tỉnh đội Quảng Bình đã khéo léo nhắc nhở bộ đội: “đại đội 9 “đỡ đầu” cho chị em chứ đừng… “đỡ đuôi” đấy nhé”!

Kỷ luật quân đội vốn nghiêm nhưng tình yêu vẫn nảy nở đẹp như hoa xương rồng trên cát. Đố ai ngăn được tình cảm của các thanh niên chưa vợ chưa chồng, trong chiến đấu tình cảm ấy càng đẹp và tôi không phải là ngoại lệ. Giữa tôi và trung úy pháo binh Nguyễn Hữu Đạt không biết ai phải lòng ai trước, nhưng tôi quý anh ở đức tính thật thà, ít nói. Quê anh ở Quảng Trạch (Quảng Bình), nhập ngũ năm 1964, là sĩ quan pháo binh, làm chính trị viên và luôn bám sát trận địa chiến đấu, gan lỳ nổi tiếng toàn trung đoàn. Tôi và anh khi thì gặp nhau ngoài trận địa, khi ở buổi giao ban, và thú vị nhất là cùng nhau đi dự Đại hội “Hai giỏi” của tỉnh và đại hội Chiến sĩ thi đua Quân khu 4. Càng gian lao thử thách, tình yêu càng thắm đượm. Năm 1970, nhờ có nhiều chiến công xuất sắc, “Xê Gái” được tuyên dương Anh hùng LLVT và năm 1971 chúng tôi làm lễ cưới. Đám cưới của hai chính trị viên ở làng cát Ngư Thủy đơn giản và vui đáo để. Khách khứa chủ yếu là bộ đội và dân quân. Đám cưới diễn ra nhanh để ai nấy còn ra trận địa trực chiến. Để mừng cho hạnh phúc của đôi tân hôn, “Xê Gái” đã bắn cháy một tàu chiến Mỹ vào đêm hôm trước. Về thăm quê nội được vài ngày thì anh Đạt được lệnh khoác ba lô đi B, tôi lại cùng chị em ngày đêm săn tàu chiến Mỹ.

Cuối năm 1972, tôi sinh cu Bình (hiện nay là trung úy, cán bộ quân lực của đoàn C68, Quân khu 4). Mới được vài tháng thì đầu năm 1973 được tin anh Đạt hy sinh. Lúc này, tôi đã lên UBND huyện Lệ Thủy làm cán bộ văn xã. Nghe mọi người nói, đơn vị anh bị dính bom B52 ở Dốc Thơm (Khăm Muộn), hy sinh gần hết. Tôi buồn rụng rời tay chân, đêm đêm ôm con khóc thầm trong khu tập thể huyện, không dám khóc to vì sợ đánh giá là bi quan! Cuối năm 1974, có thư anh báo tin ngắn ngủi: “Anh còn sống, báo tin cho gia đình và mẹ con em biết”! Đúng là nét chữ và chữ ký của anh. Tôi vui sướng trào nước mắt, hét toáng lên trong khu tập thể. Thằng cu đang ngủ ngon, tỉnh dậy ngơ ngác không biết chuyện gì xảy ra khi mẹ nó vừa cười vừa tới tấp hôn lên má. Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, không thấy thư từ cũng không thấy bóng anh về! Ngày xưa tôi yêu cái gan lì của anh bao nhiêu thì bây giờ tôi ghét cái tính ấy bấy nhiêu. Từng đoàn quân ra Bắc trong niềm vui chiến thắng mà anh thì biệt tăm. Mãi đến giữa năm 1976, anh mới lù lù khoác ba lô về. Anh nói ngắn gọn:

- Xin lỗi bố mẹ và các em, vì bận thu dọn chiến trường nên con ra Bắc muộn!

Nghỉ phép được nửa tháng, anh lại ra đi. Hết biên giới Tây Nam đến biên giới phía Bắc, tôi lại chờ. Mấy lần về phép hiếm hoi của anh, chúng tôi có thêm hai cháu là bé Phương và cu Sơn. Hiện nay các cháu đã trưởng thành, cả con rể và con dâu đều là giáo viên dạy trong huyện. Thằng út Nguyễn Thanh Sơn về dạy ở xã Ngư Thủy Trung, nơi có trận địa pháo ngày xưa, được xem là “vùng sâu vùng xa”, toàn cát là cát…

XUÂN VUI (ghi)