Không chỉ có bây giờ mà ngay sau năm 1975, Nhà máy Z113 đã tính đến chuyện sản xuất hàng kinh tế. Hồi đó, hàng quốc phòng trên giao cho rất ít, chỉ chiếm tỉ lệ 5%-10% công suất máy móc thiết bị. Muốn nâng cao đời sống cán bộ, công nhân viên, phát triển Nhà máy thì phải mở hướng ra thị trường. Và thế là, nhiều đoàn cán bộ của nhà máy đã vào Nam nghiên cứu thị trường, để năm 1976 sản xuất thuốc nổ công nghiệp, năm 1980 làm hàng cơ khí cho toàn bộ ngành dệt... Công nghệ đi trước một bước

PV: Thưa Đại tá Nguyễn Công Xuất, tôi nhớ những năm đầu sau giải phóng, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, hàng hóa khan hiếm, thì có một mặt hàng rất được người tiêu dùng ưa thích là phụ tùng xe đạp của nhà máy ta. Phải chăng tư duy làm kinh tế thị trường của Z113 có từ rất sớm?

Đại tá Nguyễn Công Xuất: Nhà máy chúng tôi trong chiến tranh có nhiệm vụ sản xuất các loại đạn nhọn, mìn, đạn pháo... phục vụ chiến trường miền Nam.

Sau năm 1975, nhiệm vụ đó ít đi buộc lãnh đạo nhà máy tìm hướng đi mới để tận dụng năng lực, duy trì đội ngũ và góp phần xây dựng đất nước. Tuy nhiên, giữa lúc cả nước đang ca khúc khải hoàn với sự rạo rực niềm vui chiến thắng mà đã có đoàn cán bộ âm thầm vào Nam nghiên cứu thị trường thì quả là Ban giám đốc nhà máy hồi đó đã có tầm nhìn xa trông rộng! Chúng tôi luôn biết ơn những người đi trước đã mở đường để thế hệ chúng tôi ngày nay kế tiếp thuận lợi.

- Tiếp cận với thị trường sớm, nên nhà máy có bị các quy luật của nền kinh tế thị trường chi phối?

- Tất nhiên làm kinh tế thì buộc phải tuân theo các quy luật đó, nhưng kinh tế thị trường ở nước ta được định hướng XHCN. Vì vậy, không phải việc gì chúng tôi cũng làm, hàng hóa nào chúng tôi cũng sản xuất, mà tư tưởng xuyên suốt của nhà máy trong mấy chục năm qua là sản xuất hàng hóa theo phương châm kỹ thuật công nghệ phải đi trước một bước, tìm việc làm có hàm lượng công nghệ cao, vừa có thu nhập vừa nâng cao trình độ cho cán bộ, công nhân viên. Ví dụ như năm 1998, nhà máy đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số thiết bị quan trọng phục vụ cho sửa chữa lớn các nhà máy đường đã lâu năm, xuống cấp nghiêm trọng. Là thiết bị đặc chủng của ngành công nghiệp hóa thực phẩm hoàn toàn khác với thiết bị của ngành gia công cơ khí, nên nhà máy đã đầu tư nhiều thời gian, đi sâu vào khảo sát thực tế, nghiên cứu kỹ các tài liệu, tham khảo các nhà chuyên môn lâu năm. Từ việc chế tạo một số chi tiết thông dụng thay thế, sau một thời gian tích lũy nhà máy đã tự chế tạo được toàn bộ hệ thống tháp Tuye, một thiết bị mang ý nghĩa là trái tim công nghệ của nhà máy đường...

- Trong làm kinh tế, lợi nhuận là hàng đầu, nhưng một yếu tố không kém phần quan trọng là nâng cao năng lực cạnh tranh...

- Muốn vậy như tôi nói, là công nghệ đi trước một bước. Do những thành công trên mà đến nay nhà máy đã chủ động hoàn toàn về các thiết bị thay thế, đảm nhận sửa chữa lớn cho các nhà máy đường Tuyên Quang, Sơn Dương, Vạn Điểm...

- Nhưng đầu tư phát triển công nghệ là việc làm tốn kém, lại có thể thất bại...

- Mấy năm trước, qua xâm nhập thị trường, chúng tôi thấy hằng năm Nhà nước phải nhập khẩu một số lượng lớn mũi khoan địa chất phục vụ khai thác than đá, khoáng sản, khoan thi công các công trình thuỷ điện, giao thông... Trước đó, Viện cơ khí mỏ và nhiều cơ sở sản xuất khác đã tập trung chế tạo nhiều năm nhưng không thành công. Chúng tôi đã thành lập tổ kỹ thuật chuyên ngành đi khảo sát thực tế và tập trung chế thử mũi khoan cầu phi 246, một loại mũi khoan khai thác đặc biệt. Nếu nghiên cứu thành công sẽ chế tạo được nhiều loại mũi khoan khác có khả năng làm việc trong điều kiện khắc nghiệt hơn.

- Và các anh đã nhiều lần thất bại?

- Nhiều lần thất bại! Khi mũi khoan đạt về hình dáng, kích thước... đưa đi khoan thử thì năng suất cắt gọt thấp, một số chi tiết không đáp ứng được cường độ làm việc của mũi khoan.

Lại tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu, chế thử. Sau mỗi lần như thế, nhà máy lại đưa đi thử nghiệm và tổ chức rút kinh nghiệm. Và hàng loạt sáng kiến, cải tiến được áp dụng: Thay đổi kết cấu phù hợp chất đất đá và các thiết bị đang sử dụng tại các mỏ, nghiên cứu các giải pháp công nghệ nâng cao độ bền, cải tiến công nghệ hóa luyện kim, sử dụng các công nghệ hàn tiên tiến... Và thành công đã không phụ lòng cán bộ, công nhân viên nhà máy: Năm 2000, nhà máy chế thử thành công mũi khoan xoay cầu phi 246 năng suất cắt gọt cao hơn 1,3 lần so với mũi khoan Trung Quốc. Năm 2003, nhà máy tiếp tục đưa vào nghiên cứu chế tạo mũi khoan phi 200, phi 110, phi 105. Năm 2004 lần lượt các mũi khoan đa dạng về kích thước đã đưa ra thị trường và được người tiêu dùng chấp nhận. Năm 2005, mũi khoan cầu phi 246 được tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới tặng giải thưởng WIPO, Hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tặng giải Nhất giải thưởng VIFOTEC về công nghệ vật liệu mới. Chỉ riêng mặt hàng này, chúng tôi tạo công ăn việc làm ổn định, lâu dài, có thu nhập cao cho 250 công nhân, mỗi năm tiết kiệm cho Nhà nước hàng chục tỷ đồng. Đầu tư về công nghệ là khó khăn, đôi lúc thất bại, nhưng chúng tôi tự hào vì mình chọn hướng đi đúng. Hiện nay, nhà máy là cơ sở duy nhất của nước ta sản xuất được loại mũi khoan này.

Tiếng nổ hòa bình

PV: Tuy nhiên, thưa anh, tôi biết rằng doanh thu chính của nhà máy vẫn là thuốc nổ công nghiệp. Phải chăng Z113 độc quyền về mặt hàng này nên đã “ăn nên làm ra”?

Đại tá Nguyễn Công Xuất: Không phải như vậy! Hiện nay có tới 4 đơn vị sản xuất thuốc nổ công nghiệp “sạch”, trong đó có 3 nhà máy của Quân đội và Công ty vật liệu nổ của Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản. Mặt khác, giá sản phẩm chất nổ công nghiệp do Ban Vật giá Chính phủ quy định chứ không phải do chúng tôi đặt giá.

- Vậy nếu chi phí sản xuất cao hơn giá của Ban Vật giá đề ra?

- Thì mình phải chịu lỗ thôi. Trượt giá thì phải chịu chung, kể cả 4 nhà máy.

- Có sự cạnh tranh lành mạnh giữa 4 nhà máy hay không?

- Có cạnh tranh nhưng không gay gắt, bởi hằng năm chúng tôi sản xuất theo đơn đặt hàng. Thuốc nổ, dù chỉ là thuốc nổ công nghiệp, cũng không thể bán tự do ra ngoài thị trường được. Chính phủ quy định chỉ có 2 công ty tiêu thụ thuốc nổ: Công ty vật liệu nổ (Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản) và Công ty vật tư công nghiệp (Bộ Quốc phòng). Chúng tôi sản xuất bán cho hai Công ty này, và họ phân phối lại cho các đối tượng khác.

Nhưng nói gì thì nói, dù sản xuất nhiều mặt hàng lợi nhuận cao thì thuốc nổ công nghiệp vẫn là sản phẩm chính và đạt doanh thu cao nhất của Nhà máy Z113. Điều đó chứng tỏ đất nước ta đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ. Chúng tôi tự hào vì mình tạo ra “tiếng nổ hòa bình”, nhưng đối với cán bộ, công nhân viên nhà máy, khi sản xuất thuốc nổ thì không hòa bình chút nào. Sơ suất một chút là gây thảm họa ngay!

- Quả là không ai dám đùa với súng đạn. Là nhà máy hoá chất, chuyên tiếp xúc không những vật liệu nổ mà còn với những chất độc hại. Vậy các anh đã làm gì để bảo đảm an toàn cho người lao động?

- Chúng tôi xác định công tác đào tạo phải đúng quy trình công nghệ, thứ nữa là việc huấn luyện cho công nhân 6 tháng một lần, yêu cầu mọi người từ giám đốc đến công nhân phải học về công nghệ và những nội quy của lao động sản xuất để phòng ngừa. Mỗi phân xưởng, mỗi ca sản xuất đều có an toàn viên giám sát theo dõi độc hại, ngăn ngừa những việc làm sai nội quy. Bên cạnh đó, chúng tôi cải tạo nơi làm việc theo tiêu chuẩn thoáng và mát mẻ, không những bảo đảm sức khỏe cho công nhân viên, mà còn để cho sản xuất được an toàn. Vì thế mà hơn 10 năm nay, nhà máy an toàn tuyệt đối trong lao động.

Thị trấn trong lòng nhà máy

PV: Trong một môi trường khắc nghiệt như vậy, làm thế nào để nhà máy “khơi nguồn sáng tạo” cho cán bộ, công nhân viên sáng kiến, cải tiến kỹ thuật?

Đại tá Nguyễn Công Xuất: Chúng tôi phát huy vai trò của đội ngũ khoa học-kỹ thuật nhà máy. Các đề tài là không giới hạn, nếu làm lợi cho nhà máy, chúng tôi sẽ thưởng. Ví dụ như chúng tôi đã thưởng 40 triệu đồng cho nhóm chế tạo thành công mũi khoan xoay cầu.

Nhưng một điều quan trọng hơn là chúng tôi tạo được một hậu phương vững chắc để mọi người yên tâm lao động sản xuất và sáng tạo.

Tôi khẳng định một điều này, không biết có chủ quan không: Có lẽ trong quân đội ta, chỉ có nhà máy chúng tôi mới có thị trấn được Nhà nước công nhận. Thị trấn nằm trong lòng nhà máy! 50 năm tồn tại và phát triển, nhiều thế hệ trong một gia đình nối tiếp nhau vào nhà máy làm việc, sinh cơ lập nghiệp, xây nhà dựng cửa, tạo nên thị trấn Tân Bình trù phú của tỉnh Tuyên Quang.

- Điều quan trọng, theo tôi nghĩ, thị trấn trong lòng nhà máy là một mô hình độc đáo theo kiểu “ngụ binh ư nông”?

- Tôi chưa nghiên cứu kỹ hình thái anh vừa nói, song giữa nhà máy và thị trấn có sự hỗ trợ nhau rất nhiều. Thị trấn giúp chúng tôi quản lý hành chính, trật tự trị an, các hội tập thể và những mặt xã hội khác. Vì là thị trấn của nhà máy nên chúng tôi luôn chăm lo đến mọi mặt của thị trấn. Nhà máy đã đầu tư gần 3 tỷ đồng xây dựng mới trường mầm non của thị trấn đạt chuẩn quốc gia, cải tạo lại toàn bộ hệ thống đường điện, nước cho các khu dân cư, hỗ trợ kinh phí bê tông hóa cho 11 khu phố, xây dựng nhà văn hóa, nhà thi đấu thể thao để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho bà con. Những công dân của nhà máy đồng thời là của thị trấn lớn lên, dù vào nhà máy làm việc hay đi xa đều coi thị trấn và nhà máy là nơi chôn nhau cắt rốn, là quê hương yêu dấu của mình. Đó là thuận lợi rất lớn để nhà máy chúng tôi ổn định sản xuất, tiếp tục phát triển.

- Xin cảm ơn anh!

Hồng Sơn (thực hiện)