QĐND - Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần số 821, ra ngày 25-9-2011 đăng bài “Tàu không số đang ở đâu?” với nỗi trăn trở của chúng tôi mong mỏi việc tìm kiếm được những con tàu không số “bằng xương bằng thịt”. Thật bất ngờ, báo vừa in, sáng ấy, tôi nhận ngay một cuộc điện thoại lạ: “Các anh ơi! Tôi là Hoán, Chính trị viên Hải đội 384, Cục Hậu cần Hải quân. Đơn vị tôi hiện vẫn quản lý tàu không số 41, nay mang số hiệu HQ671, nó vẫn...chạy tốt!”. Tôi lặng người, xúc động và ngạc nhiên...
Tàu không số 49 tuổi
Ngay ngày hôm sau, chúng tôi đã có mặt ở Hải Phòng để tìm lại tàu không số 41, con tàu rạng ngời chiến công mà nếu bạn vào google, gõ “Tàu 41”, sẽ có tới hàng trăm bài viết. Qua sự kết nối của Thiếu tá Nguyễn Như Thường, phóng viên của Trung tâm Phát thanh-Truyền hình Quân đội nhân dân, chuyến thăm lại Tàu 41 còn có thêm 3 cựu chiến binh từng một thời gắn bó với con “chiến mã” này gồm: Thượng úy Hoàng Gia Hiếu, nguyên máy trưởng, từng 5 lần đi trên Tàu 41; Đại tá Trần Văn Tú, nguyên thuyền trưởng và Trần Văn Lịch, nguyên thủy thủ.
Trời Hải Phòng những ngày cuối tháng 9 bỗng đổ mưa dài ngày vì ảnh hưởng của đợt bão, nhưng các bác cựu chiến binh vẫn đội mưa đến Hải đội 384 từ sớm. Thấy con tàu đang thanh thản nằm đó, giọng bác Hiếu run run: “41, mày đấy ư? Tao đây, máy trưởng 5 lần đi biển cùng mày đây. Mày còn... ngon lành quá nhỉ, chẳng già nua, rệu rã như... bọn tao!”.
 |
| Thuỷ thủ tàu 671 trước giờ chia tay con tàu |
Con tàu 100 tấn, sơn màu ghi vẫn vững chãi như một chiến mã. Buồng chỉ huy sơn màu trắng khá mới. Ngoài cột ăng-ten thông tin còn có cả dàn ăng-ten ti-vi của thủy thủ. Lá cờ đỏ sao vàng phần phật tung bay như cánh tay vẫy chào những “cố nhân” năm nào.
Trong buồng chỉ huy, cuốn “Sổ truyền thống” bìa đã ngả màu, Đại tá Trần Văn Tú, nguyên thuyền trưởng Tàu 41 mở xem, xúc động: “Tàu 41 có ký ức dữ dội và oai hùng lắm. Từ năm 1963 đến năm 1970, tàu đã đi được 15 chuyến, chở 530 tấn vũ khí cho miền Nam”.
Trong dòng ký ức đang ùa về ào ạt như sóng đại dương, các cựu chiến binh tâm sự, trong các đời thuyền trưởng của Tàu 41, ông Hồ Đắc Thạnh cũng là một thuyền trưởng nổi tiếng. Ông là một trong hai cựu chiến binh còn sống đã được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân trong năm nay.
Tôi ra mạn tàu, gọi điện cho ông Hồ Đắc Thạnh. Tiếng ông sang sảng: “Ngày ấy, Tàu 41 có nhiều tên tuổi oai hùng lắm đó nghen. Anh hùng Đặng Văn Thanh cũng từng là chính trị viên tàu này. Chuyến đi đầu tiên Tàu 41 do tôi chỉ huy là vào Vàm Lũng, Cà Mau. Tàu 41 “hên lắm” nên được vào tốp có số vòng quay nhanh nhất của Đoàn 125”.
Con tàu hai lần anh hùng
Chuyến đi của Tàu 41 khi ông Đặng Văn Thanh làm chính trị viên, ông Lê Văn Một làm thuyền trưởng, máy trưởng Huỳnh Văn Sao, mở đường đưa vũ khí vào Bà Rịa, diễn ra vào tháng 9-1963, ly kỳ như phim. Tàu đi trong bão, sóng lớn, phải cho màn vào nồi nấu chung mới có cháo cho thủy thủ ăn. Vào tới Sông Ray, tàu mắc cạn ngay trước cửa đồn Phước Hải. Trời sáng, vũ khí bốc chưa hết. Thủy thủ đoàn lên bờ, chỉ còn ông Thanh và máy trưởng Sao ở lại. Mặc cho trên bờ 3 lần ra lệnh hủy tàu, mặc cho máy bay địch trinh sát, nhòm ngó, họ bình tĩnh giả uống rượu, vá lưới với can xăng và cái màn ở bên, bộc phá cài sẵn, sẵn sàng hy sinh... Cuối cùng, họ đã qua mặt kẻ thù. Ngày 20-9-2011 vừa qua, Chủ tịch nước đã ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho 3 cá nhân đi trên Tàu 41 gồm: Thuyền trưởng Lê Văn Một, Thuyền phó Dương Văn Lộc, nguyên máy trưởng Huỳnh Văn Sao. Như vậy, Tàu 41 đã có tới 5 Anh hùng LLVT nhân dân.
 |
| Tàu HQ671 hiện nay. Ảnh: Trịnh Dũng |
Ông Hồ Đắc Thạnh nghẹn ngào kể về 3 lần đưa vũ khí vào Vũng Rô, quê hương ông. Chuyến đầu tiên vào tháng 11-1964, Tàu 41 mở đường đột phá vào Vũng Rô, một bến nước sâu, hiểm trở. Máy bay, tàu địch theo dõi, gió, bão, họ đều vượt qua. Thành công! Chưa đầy một tháng sau, ngày 20-12-1964, Tàu 41 lại lên đường vào Vũng Rô một lần nữa. Lần này, ngoài 80 tấn vũ khí, ông Thạnh còn mạnh dạn xin trên tặng đồng bào 3 tấn gạo. Phú Yên lúc này trong vòng kìm kẹp của kẻ thù, bộ đội, du kích, nhân dân rất đói. Lần thứ 3, Tàu 41, vẫn do Thuyền trưởng Thạnh chỉ huy lại cập bến thành công, đưa vũ khí và đón Giao thừa ngay tại Vũng Rô.
Sau sự kiện Vũng Rô 1965, Tàu 143 bị địch phát hiện, Đường Hồ Chí Minh trên biển bước vào thời kỳ đầy cam go nhưng năm 1966, Tàu 41 do những thành công vang dội trước đó vẫn được chọn thí điểm chở vũ khí vào vùng biển bãi ngang miền Trung. Ngày đó, vào được bãi ngang chỉ những ngư dân lão luyện dùng bè mảng mới dám làm, dùng tàu sắt khó như đội đá vá trời. “Lúc giao nhiệm vụ, cấp trên hứa, nếu đưa tàu vào bến thành công thì sẽ được tuyên dương anh hùng ngay” - ông Thạnh nhớ lại. Thế mà, Tàu 41 đã vào tới nơi, thả được 2/3 vũ khí xuống biển để bờ ra vớt. Rồi tàu gặp nạn, sóng đánh cong chân vịt, phải dùng bộc phá nổ tàu khi trời sắp sáng. “Chúng tôi đã lên bờ, trở về an toàn nhưng cho đến giờ, tôi vẫn bị ám ảnh bởi cái quầng lửa đỏ rực khi con tàu tan vào biển khơi...” - ông Thạnh tâm sự.
Con tàu được thay thế vẫn mang tên gọi 41. Tháng 4-1970, tàu do Trung úy Nguyễn Hồng Lỳ làm thuyền trưởng, Trung úy Trần Quốc Tuấn, Chính trị viên chỉ huy, chở 58 tấn vũ khí rời Vụng Ếch, Quảng Ninh vào Nam Bộ. Vòng qua đảo Hải Nam, tàu tới gần đảo La-tu-na Bắc thuộc In-đô-nê-xi-a. Đêm 7-5-1970, tàu đã vào được vùng Ghềnh Hào (Bạc Liêu), dù bị tàu địch theo dõi nhưng ta vẫn bình tĩnh vượt qua, vào bến Hang Hố an toàn. Nhờ có vũ khí, 9 ngày sau, Trung đoàn 962 đã dùng súng B40 của Tàu 41 mới đưa vào phục kích trên Vàm Đàm Rơi, bắn chìm 4 tàu cao tốc và 1 tàu kéo của địch.
Hai chuyến đi thành công sau sự kiện Vũng Rô, tàu đã vượt 7.120 hải lý, với 48 ngày đêm chiến đấu kiên cường, mang lại số vũ khí quý hơn vàng cho miền Nam đang khát súng. Chính vì thế mà ngày 11-1-1973, Tàu 41 đã được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân lần thứ nhất. Lời tuyên dương của Quốc hội có đoạn viết: “Tàu 41 là một tập thể trung kiên, nêu cao truyền thống anh hùng của quân đội nhân dân, bền bỉ chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, bình tĩnh dũng cảm vượt qua mọi nguy hiểm, mưu trí, táo bạo quyết giành thắng lợi, lập công xuất sắc, xây dựng đơn vị lớn mạnh về mọi mặt”.
 |
| Trang lưu bút của nữ tướng Nguyễn Thị Định ghi tặng Tàu 41 và Lữ đoàn 125. Ảnh: Như Thường |
Bác Hoàng Gia Hiếu cho biết: “Còn nhiều chuyện cảm động xung quanh con tàu này lắm. Đây! Chính trong cuốn sổ truyền thống này, còn ghi lưu bút chị Ba Định viết tặng Tàu 41, tặng Đoàn 125”.
Tôi lật giở cuốn sổ cũ đã sờn mép, bạc màu. Sau 37 năm, nét chữ của nữ tướng Nguyễn Thị Định vẫn rõ như màu vùng biển sâu, đen thẫm. Năm 1974, chị Ba Định đã đi trên con tàu không số 41 từ miền Nam vượt biển ra Hải Phòng nhanh chóng, an toàn. Ra tới Đồ Sơn, chị xúc động viết những dòng lưu bút thân thương, gần gũi: “Hải Phòng, ngày 14-3-1974... Các đồng chí Đoàn 125 thương mến! Hai mươi năm qua, kẻ địch tìm mọi cách để ngăn cách tình cảm thiêng liêng của dân tộc ta, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc ruột thịt, để chúng tiêu diệt phong trào cách mạng miền Nam. Nhưng các đồng chí là những người con ưu tú của Tổ quốc đã vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm một mình cưỡi sóng to gió lớn, chiến đấu âm thầm giữa biển khơi để truyền dòng máu nóng hổi của miền Bắc XHCN cho miền Nam ruột thịt của chúng ta...”. Cuối trang lưu bút, chị Ba Định tin tưởng tiên đoán: “Một ngày không xa nữa, miền Nam sẽ được vinh dự đón những người anh hùng trong Quân chủng Hải quân đến thăm miền Nam ruột thịt...”.
Lời tiên đoán của chị đã trở thành hiện thực. Hòa bình, Tàu 41 được bổ sung cho Vùng 4 Hải quân với tên mới HQ671 thuộc Hải đội 413. Tàu đã nhiều lần vận tải xây dựng Trường Sa. Năm 1988, tàu lại nhiều lần lập công xuất sắc, như một chiến mã oai hùng giữa biển khơi, vượt bão tố, hiểm nguy, kiếm tìm đồng đội...Ngày 6-1-1989, tàu được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân lần thứ hai.
“Pho sử sống” sống mãi
Thời gian vùn vụt trôi như làn sóng biển cuồn cuộn bạc đầu xóa nhòa bao ký ức. Trên boong tàu, thân tàu giờ ánh màu sơn mới kia, nơi nào từng thấm máu đồng đội, cha anh? Nơi nào các liệt sĩ đã nằm? Chúng tôi đứng trên boong, mưa thu lay phay mà lòng ngổn ngang suy nghĩ. Thuyền trưởng Tàu 671 bây giờ, một chàng trai trẻ có cái tên gợi nhiều ý nghĩa: Phạm Chinh Chiến. Chiến cho hay: “Tàu 671 được bàn giao từ Vùng 4 Hải quân về Hải đội 384 từ năm 2002, đã ngót 10 năm tàu gắn bó với chúng tôi. Quân chủng Hải quân hiện đang tiến lên chính quy, hiện đại, được trang bị nhiều tàu vận tải lớn nên nhiều năm qua, HQ671 chưa ra khơi, nhưng chúng tôi luôn hiểu đây không chỉ là con tàu mà còn là một pho sử sống. Tàu đóng năm 1962, về với Đoàn 125 năm 1964. Tuổi đời của nó còn cao hơn tuổi của tất cả cán bộ, chiến sĩ hải đội hôm nay. Vì vậy, chúng tôi luôn duy tu, bảo quản tàu thật tốt”.
“Các con bảo quản tàu tốt lắm, chẳng thua kém thời bọn bố ngày xưa!”-các cựu chiến binh ngợi khen. Đây không phải là lần đầu tiên họ về thăm “chiến mã” cuối cùng trong loạt tàu loại 100 tấn. Cách đây ít lâu, đã có nhiều đề xuất về việc bảo tồn “pho sử sống” này. Theo ông Hồ Đắc Thạnh, các doanh nhân thành đạt như Đào Hồng Tuyển, Hoàng Văn Thiềng từng là cựu chiến binh Đoàn tàu không số, nay đều sở hữu các khu du lịch biển nổi tiếng đều đề xuất xin được đưa Tàu 41-671 về trưng bày tại khu du lịch Tuần Châu hoặc Hòn Dấu, vừa thu hút du khách và có thể mang về một nguồn kinh phí nào đó hỗ trợ các cựu chiến binh tàu không số.
Nhân kỷ niệm 50 năm Đường Hồ Chí Minh trên biển, cũng từng có phương án kéo tàu ra Bến K15 Đồ Sơn trưng bày vĩnh viễn. Tuy nhiên, kinh phí khơi thông luồng lạch theo thành phố Hải Phòng, phải mất 8 tỷ đồng. Vì vậy, phương án được lựa chọn là con tàu sẽ được đưa về Bảo tàng Hải quân. Bộ Quốc phòng đã cho phép đầu tư xây dựng một cầu cảng, phục vụ neo tàu và phục vụ du khách tham quan.
Chiều 4-10-2011, khi tôi đang viết những dòng kết thúc bài viết này thì Đại uý Phạm Chinh Chiến điện thoại cho hay, anh vừa nổ máy cho Tàu 41-671 thực hiện hải trình cuối cùng, cơ động từ Hải đội 384 ra sông Lạch Tray, về Bảo tàng Hải quân. Sau 20 giờ qua sông và chờ đợi thủy triều lên, tàu đã về bến lúc chiều muộn. Tiếng máy vẫn giòn, tàu vẫn lướt sóng êm ru dù gần 10 năm rồi nó chưa hề đi xa. Tàu 671 đã kết thúc sứ mệnh một con tàu vận tải để bàn giao cho Bảo tàng Hải quân. Tiếc, nhưng không thể níu giữ được vì con tàu giờ đây đã là một phần của lịch sử, là di sản chung, là niềm tự hào của cả dân tộc. Bên dòng Lạch Tray chiều lộng gió, cả hải đội đứng nghiêm giơ tay chào con tàu lần cuối và không ai bảo ai, nước mắt lại trào ra, lăn dài trên gương mặt những chiến sĩ hải quân trẻ trung, tươi sáng...
Nguyên Minh