 |
| Bác Hồ trong lòng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: TL |
- Ama, Ama!
- Ơ-Giàng, Ama-Hạnh!
Hạnh vừa bước qua cổng làng, một bà cụ nhìn thấy, la thất thanh lên như thế.
Một bà cụ nữa nhìn thấy:
- Giàng ơi! Ama-Hạnh! Lũ làng ơi! Ama-Hạnh đã về rồi!
Cả làng hủi túa ra cổng vây quanh Hạnh gào lên: Ama! Ama!
- Ama-Hạnh, sao mày lâu thế? Dân làng buôn Két nhớ mày lắm! Mấy cái mùa rẫy rồi, hôm nay mày mới về à?
Đàn ông, đàn bà, già trẻ, gái trai, người nào người nấy đều đen đúa, gầy guộc. Họ vây quanh anh, chìa hai bàn tay cụt hết ngón, rướm nước vàng, như muốn ôm anh vào lòng.
Đột ngột quá! Hạnh đứng như trời trồng, mặc cho dân làng sờ nắn, vuốt ve khắp thân người. Hạnh sung sướng, nước mắt chảy dài.
Hạnh đâu có ngờ bao năm xa cách, bà con làng hủi buôn Két vẫn còn nhớ anh, vẫn yêu quý anh, đón chào anh như mừng đứa con đi xa mới về. Nhưng tại sao hôm nay bà con nhất loạt gọi anh bằng “Ama”?
“Ama” tiếng dân tộc Ê Đê là “người cha”. Người mà dân làng tin yêu, kính trọng nhất. Người đứng đầu một buôn, như một tộc trưởng nắm giữ quyền hành, hướng dẫn lũ làng lên nương làm rẫy, trồng sắn, trồng bắp, săn bắt thú rừng. Giặc “Phalang” đến, già làng đi trước, kéo hết cả buôn ra chống giặc. Đến mùa lúa chín, dân làng lên nương chọn vùng lúa tốt nhất, suốt một ít đem về làm cơm, để cha làng cúng Giàng trước. Sau đó cả làng mới được suốt lúa của nương mình về ăn.
“Lần này bà con làng hủi buôn Két gọi mình là Ama như gọi cha làng buôn Két. Chắc họ biết mình là người của cách mạng, của Bác Hồ. Qua chín năm gian khổ đánh Pháp và những năm tháng ác liệt mới đây, mình đã đến với họ. Đã ăn chung với họ ngọn măng rừng, trái bắp nướng. Đêm đêm bên bếp lửa nhà sàn, mình đã nói cho bà con nghe chuyện người anh hùng bất khuất Ama Trang Lơn và chuyện ông Sa người Gia Lai đánh Tây năm xưa...”-Hạnh nhớ lại Cách mạng đã dạy cho đồng bào biết rào làng cắm chông, gài bẫy, không cho thằng giặc đến phá rẫy đốt làng.
Bữa ăn tối hôm ấy, Hạnh không biết tính sao cho phải? Nhà nào cũng mời gọi:
- Ama Hạnh đâu rồi? Sao mày ngồi đó lâu thế? Về ăn với nhà tao đi!
- Ama Hạnh à! Ăn ít thôi, còn để cái bụng ăn cơm nhà tao chớ?
Đành phải vậy, Hạnh chỉ ăn mỗi nhà một miếng sắn, hoặc nửa trái bắp, còn dành cái bụng đi khắp các nhà trong buôn, mới gọi là đoàn kết.
Đêm đến. Một đêm kỷ niệm nhớ đời. Đúng là đêm ấy không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của Hạnh.
Ăn bữa cơm đoàn kết vừa xong ở nhà cuối buôn thì trời tối mịt. Hạnh mò theo lối mòn, nhìn những con đom đóm lập lòe trên các cọc rào tre làm chuẩn để bước. Hạnh vừa bước lên cầu thang nhà cha làng buôn Két thì bà con đã tề tựu chật ních. Hình như không thiếu một ai của làng hủi. Người già ngồi vây quanh bếp lửa. Lũ con trai, con gái ngồi vòng ngoài kéo dài đến tận chân cầu thang.
Cha làng buôn Két đưa hai tay nhắc cây củi gộc đẩy vào cho lửa cháy bùng lên, rồi bảo: “Ama Hạnh kể chuyện Bok Hồ cho lũ làng nghe đi”! Hồi lâu, mình còn nhớ Ama Hạnh kể rồi, nhưng lâu rồi, mình cũng không nhớ đâu”.
Hạnh nghĩ: Chuyện Bác Hồ thì nhiều lắm! Biết kể đến bao giờ cho hết. Nhưng thú thực Hạnh, cũng chỉ nghe kể lại nên không còn nhớ mạch lạc nữa. Chỉ có một chuyện mà Hạnh không thể nào quên được. “Chuyện gặp Bác trước lúc lên đường vào Nam”. Gặp Bác lần ấy, Bác cho món quà đơn sơ mà Hạnh giữ kỹ cho đến giờ, vẫn còn mới nguyên. Có lẽ kể chuyện này cho bà con nghe là hay nhất.
Hạnh lấy ra cuốn lịch túi. Đó là cuốn lịch túi Xuân 61, Bác tặng cho sáu anh em trong đoàn, mỗi người một cuốn.
Hạnh giở trang đầu đưa cho già làng xem trước, Hạnh bảo: Bà con xem ảnh Bok Hồ trước. Già làng xem xong sẽ chuyền cho mọi người; rồi Hạnh sẽ kể chuyện.
Thế là lũ con trai, con gái từ ngoài cầu thang vọt chạy vào vây kín bếp, người nào cũng muốn được xem trước.
Già làng buôn Két nhắc nhở: “Mỗi người xem một chút thôi, còn nghe Y-Hạnh kể chuyện Bok Hồ nữa đấy!”.
- À! Ama Hạnh này, Bok Hồ có mạnh khỏe không? Bok Hồ có bị đau gì không? Bao giờ đuổi hết thằng giặc Mỹ-ngụy, bà con dân tộc Tây Nguyên mình sẽ được Bok Hồ vào thăm nhỉ?
- Ồ! Không đâu, Bok Hồ già rồi, đi sao được cái dốc, cái suối sâu? Thằng Y-Lok nói làm già làng cụt hứng, nhìn trừng trừng vào mặt hắn. Ama Hạnh phải đỡ lời: Không, Bok Hồ có máy bay, có ô tô chứ!
Già làng cười hà hà, lấy ống vố gõ gõ trên đù đày củi, rồi bứt thuốc lá nhét vào, châm lửa, tỏ ra khoái chí.
Hạnh nhìn ra rừng, trời đen như mực, chắc khuya hung rồi, anh bảo: “Thôi bà con chuyền nhau xem ảnh Bác, Hạnh kể chuyện Bác Hồ cho bà con nghe đây”.
- Đồng ý, đồng ý... Lũ con trai, con gái nhao nhao, ngồi gần vào để nghe cho rõ.
Hạnh chậm rãi: “Cách đây ba mùa rẫy, hôm đó Hạnh với năm anh em nữa, được Bok Hồ gọi lên cho ăn bánh kẹo, Bác hỏi thăm sức khỏe, dặn dò trước khi về Nam và Bác cho cuốn lịch có ảnh Bác đó.
Hôm ấy, Hạnh sướng chảy nước mắt, khi thấy Bok Hồ mạnh khỏe, da Bác đỏ hồng, mắt Bác sáng, râu Bác dài, Bác đi còn nhanh nhẹn, khỏe khoắn, nhưng tóc Bác bạc trắng rồi!.
Bác dặn anh em Hạnh: “Các chú nhớ nói với đồng bào Tây Nguyên cho Bác gởi lời thăm. Bác bảo: Đồng bào các dân tộc anh em ở Tây Nguyên phải biết thương yêu nhau, đoàn kết mới đánh thắng thằng giặc. Người Ê-đê, Ba-na, Gia-rai, Mơ-nông... đều phải học tập gương anh hùng Núp đánh Pháp năm xưa. Đánh thắng Mỹ-ngụy thì mới tự do làm ăn, mới hết đói nghèo...”.
Nghe đến đó, mọi người ồ lên: “Bok Hồ tội nghiệp, Bok Hồ thương người Tây Nguyên mình lắm! Bụng Bok Hồ tốt lắm!
- Đúng rồi! Già làng bảo: Tại Bok Hồ tốt lắm, nên mới dạy cho cán bộ Hạnh, Y-Năm; Rồi Y Hạnh, Y Năm dạy lại cho lũ làng biết ghét thằng giặc Phalang, thằng Mỹ-ngụy đấy!
Bà H’Mét tiếp lời: “Ồ! Tội nghiệp Bok Hồ. Ở Hà Nội xa lắm mà còn nhớ lũ làng mình. Ama Hạnh là cháu Bok Hồ nên biết thương bà con dân tộc. Con cháu Bok Hồ như Ama Hạnh, Y Năm mới dám ăn chung cái “cà típ” cơm gạo lúa “mống chim”, uống chung cái bầu nước chè xanh với người hủi mình. Ama Hạnh, Y Năm dám ngủ chung bếp nhà sàn với người hủi mình nữa!
Nghe bà con xì xầm chuyện Hạnh dám ăn chung, ngủ chung với người hủi, anh nhớ lại: hồi chín năm, một hôm về hoạt động ở làng này. Vừa đến sân nhà rông, Hạnh nghe một loạt súng nổ giòn, vội chạy vào chuồng trâu. Đàn trâu ngơ ngác, chồm đầu ra ngoài róng, hai chân sau giậm lẹt nhẹt trong phân bùn. Hạnh luồn vào giữa đàn trâu. Từ trong nhà, hai bà mẹ xăm xăm đi ra phía cổng làng, nơi có tiếng súng. Các mẹ vừa đi vừa đưa hai tay lên trời như một biểu hiện đầu hàng, nhưng cũng báo cho bọn giặc biết những cánh tay hủi, rụng hết ngón, chỉ có nước vàng rươm rướm.
Một thằng giặc bụm hai tay làm loa gào to: Ê! dân làng, bắt tên Việt cộng vừa chạy vào đem nộp mau, nếu không quốc gia sẽ đốt hết nhà bây giờ...”. Nghe chúng gào, hai bà mẹ vừa chạy vừa la: “Không có Việt cộng đâu, chỉ có người lấy măng vừa chạy vào rừng đó”.
Thấy hai mẹ chạy ra chúng hết vía, ù té chạy ngược lại. Chúng còn bảo: “Coi chừng dưới chân kẻo giẫm vào nước tiểu con hủi cũng rụng hết ngón đấy”!
*
* *
Vậy đó, bà con làng hủi buôn Két thương mình, yêu thương những cán bộ cách mạng, chính vì chúng mình thật lòng thương yêu bà con, tôn trọng và giúp đỡ bà con trong những lúc đói cơm lạt muối, sống chết với bà con trong những tháng năm giặc lùng giặc vây.
Đêm đã khuya, dòng sông Krông Ana vẫn rì rầm dưới chân đỉnh Chưzangxin hùng vĩ. Bếp lửa nhà cha làng buôn Két đã tàn mà ánh mắt lũ làng vẫn hướng về phía Ama Hạnh. Chuyện kể về ơn Bác biết bao giờ cho hết.
1 Hạnh: tên công tác của Phạm Thành Hạnh (Ama Trang) đang nghỉ hưu tại Đà Nẵng
2 Phalang: Tiếng gọi chệch từ France, chỉ giặc Pháp.
3 Tên gọi địa phương của anh hùng Núp.
DƯƠNG KIỆN