 |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bài thơ chữ Hán: Phong cảnh Quế Lâm |
Trong những năm cuối đời, Hồ Chí Minh thường đặt ra một vấn đề với những người Mỹ đến thăm Hà Nội hằng quan tâm đến việc chấm dứt chiến tranh tại Việt
Nam.
Người hỏi: “Bạn hãy cho tôi biết tượng thần Tự do còn đứng hay không? Đôi khi, tôi thấy hình như bức tượng đó đứng bằng đầu”.
Hồi ấy, Hồ Chí Minh là một cụ già nhỏ nhắn, gầy gò, nhanh nhẹn như chim trong mọi động tác. Nhưng Người còn ham muốn-sự ham muốn trong sáng-được biết về siêu cường đang tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, siêu cường này đã được Người sớm nhận ra dưới đôi mắt của một thủy thủ thời kỳ Người làm phụ bếp trên tàu biển.
Phần lớn khách phương Tây của Hồ Chí Minh đều ngạc nhiên khi thấy Cụ-một người châu Á gần như cổ điển với chòm râu thưa, quần vải thô rộng và đôi dép rẻ tiền-thường không chỉ quan tâm tới những quan điểm chính trị quốc tế hiện thời về cuộc chiến tranh Việt Nam mà còn quan tâm sâu sắc thật sự đến các vĩ nhân nước Mỹ. Cụ đặc biệt am hiểu những nhân vật cách mạng: George Washington, Thomas Jefferson, Patrick Henry, Abraham Lincoln (những nhân vật thường được Cụ trích dẫn), Woodrow Wilson (nhân vật đã từng là thần tượng hồi trẻ của Hồ Chí Minh) và Franklin Roosevelt (nhân vật mà Hồ Chí Minh cảm thấy chắc chắn, nếu còn sống, đã nhấn mạnh đến nền độc lập Đông Dương và sẽ không bao giờ cho phép cuộc chiến tranh đen tối và đẫm máu tại Đông Dương được tiếp diễn).
Tôi không muốn đánh giá quá cao lòng yêu mến của Hồ Chí Minh đối với nước Mỹ. Là một người cộng sản lão thành và một người cộng sản kiệt xuất, Cụ qua đời vào ngày mồng 2-9-1969, nhưng Cụ không hề thấy có sự khác biệt gì giữa chủ nghĩa Mác (ít ra cũng theo sự hiểu biết của Cụ) với các nguyên tắc của Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ chẳng hạn.
Chính vì vậy, khi viết Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày mồng 2-9-1945, Cụ bắt đầu bằng những lời sau:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ đó ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Hồ Chí Minh muốn trích dẫn trực tiếp từ bản Tuyên ngôn của nước Mỹ. Nhưng chẳng may, những viên chức rất hiếm hoi của OSS(1) có mặt tại Hà Nội hồi ấy đã không có bản sao nào bản Tuyên ngôn này để chuyển cho Cụ.
Các học giả đã tranh luận không ngừng về vấn đề Hồ Chí Minh trước hết là một nhà dân tộc chủ nghĩa hay một người cộng sản. Tuy nhiên, câu trả lời đã rõ ràng. Cụ là cả hai. Cụ là nhà dân tộc chủ nghĩa trước khi là người cộng sản, nhưng Cụ trở thành người cộng sản vì những người cộng sản, theo sự tin tưởng của Cụ, đã cống hiến nhiều nhất cho nền độc lập và tự do của Đông Dương.
Trong phong trào cộng sản quốc tế, có lẽ ít người đóng một vai trò nhiều thay đổi hơn Hồ Chí Minh. Cụ Hồ, trong suốt cuộc đời, là thành viên của ít nhất bốn hoặc năm đảng cộng sản, đầu tiên là Pháp, rồi đến Liên Xô, sau tới Trung Quốc, tiếp theo là Đông Dương và cuối cùng là Việt Nam. Trong nhiều năm, Cụ là một cán bộ của Quốc tế 3 (tức Quốc tế Cộng sản), nắm giữ nhiều công tác cách mạng, bí mật và bí ẩn, tại hàng chục nước, không chỉ ở châu Á.
Người Mỹ thường nghĩ về Hồ Chí Minh qua cuộc chiến tranh ở Việt Nam và qua những dính líu của Mỹ. Hồ Chí Minh là Bác Hồ, nhà lãnh đạo duy nhất và bí ẩn của những đảng viên cộng sản. Cụ đã, bằng phương pháp nào đó, đưa toàn bộ kỹ thuật quân sự Mỹ đến đường cùng trong một cuộc chiến đấu không tiền khoáng hậu giữa chàng Đa-vít và tên khổng lồ Gô-li-át thời đại hiện nay, tấm gương sáng ngời về chiến thắng của một đất nước nghèo nàn và lạc hậu đối với bộ máy chiến tranh hiện đại nhất được tạo lập bởi con người.
Những nét tương phản giữa “Bác Hồ” và cụ già nhỏ nhắn, đi đôi dép cắt từ lốp ô tô bỏ đi, sống giản dị và khắc khổ tại căn buồng phụ nhỏ và đơn sơ sau dinh Toàn quyền cũ ở Hà Nội, rất lịch thiệp khi uống trà với khách (tặng một bông hoa hồng đối với khách nữ, nói một câu đùa hài hước đối với khách nam). Tất cả đều là những nhân tố của thần thoại và truyền thuyết.
Không phải Hồ Chí Minh không biết những điều này.
Một cố chuyên gia xuất sắc về Việt Nam, ông Bernard Fall, người Pháp, đã có lần tha thiết yêu cầu Cụ Hồ cho biết một vài chi tiết về tiểu sử của Cụ. Cụ Hồ từ chối với một cái nháy mắt lanh lợi và nói: “Ông biết đấy, tôi là một người già, một người rất già, và người già thường ưa làm ra vẻ bí ẩn về mình. Tôi cũng thích giữ một số điều bí ẩn nhỏ. Chắc ông hiểu”.
Cho tới ngày nay, nhiều điều “bí ẩn nhỏ” ấy vẫn tồn tại: những chi tiết chính xác về gia đình, về hoạt động của Cụ Hồ trong nhiều giai đoạn dài (đôi khi lâu đến cả mười năm) và cả tên của Cụ nữa.
Từ 1920 đến khi mất, Cụ Hồ phát biểu liên tục và viết rất nhiều. Cụ đã để lại dấu ấn đầu tiên của mình với tư cách một nhà cách mạng kiêm chủ bút một tờ báo lấy tên là Le Paria tại Pa-ri (Pháp).
Bạn có thể nghiền ngẫm hàng loạt bài viết và bài nói trong những số Le Paria đó và học hỏi được nhiều về chính kiến của Cụ, về lòng căm thù rực cháy của Cụ đối với hệ thống thuộc địa Pháp, về nhiệt tâm thức tỉnh đồng bào đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và cách mạng.
Nhưng trong tất cả những tài liệu đó, bạn chỉ thấy rất thoáng qua hình ảnh của con người Hồ Chí Minh, của cá nhân Hồ Chí Minh, của người con trai rất trẻ tuổi của một ông bố thiên về chủ nghĩa dân tộc.
Hồ Chí Minh rời bỏ đất nước ở tuổi hai mươi và trở về sau gần ba chục năm(2). Tuy nhiên, Cụ đã làm việc không ngừng cho chính nghĩa Việt Nam. Quá bận đến nỗi, như Cụ thường nói, không có thời giờ để lập gia đình riêng và nuôi sống gia đình. Cho nên, vào cuối đời, Hồ Chí Minh thích nói với nhân dân Việt Nam rằng, nhân dân là gia đình của chính mình.
Nhưng Hồ Chí Minh đã không mất đi mà không để lại cho con người thời đại hạt nhân một dòng tư tưởng, và hơn cả một dòng tư tưởng, đó là tinh hoa triết học được thể hiện suốt đời Cụ...
Trong chiếc cặp của tôi khi trở về Mỹ sau chuyến đi thăm tháng Giêng 1967, tôi mang theo một cuốn sách nhỏ đóng bằng giấy trắng hoa văn màu tím hoa cà, in tại Hà Nội, với nhan đề Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, cuốn sách mà trước đó tôi chưa từng được nghe nói đến.
Trong đời mình, Hồ Chí Minh đã nhiều lần bị tù.
Cuốn nhật ký được viết vào khoảng từ 28-8-1942 đến 16-9-1943, khi Hồ Chí Minh là người tù của công an Tưởng Giới Thạch tại một nhà tù phía Nam Trung Quốc. Cụ bị giam tại hết nhà giam này đến nhà giam khác, luôn luôn bị xiềng xích, sống trong những điều kiện khó khăn nhất và gầy như một bộ xương khô. Cụ được trả tự do. Cụ đã bị công an Côn Minh bắt trên đường từ Đông Dương sang Trùng Khánh để bàn bạc với Tưởng Giới Thạch về mặt trận thống nhất giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc chống Nhật.
Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh không phải là một cuốn nhật ký theo nghĩa phương Tây. Nó gồm 115 bài thơ bảy chữ bốn câu (thất ngôn tứ tuyệt) hoặc bảy chữ tám câu (thất ngôn bát cú) luật Đường, các thể thơ cổ điển Trung Quốc. Tất cả đều được viết bằng chữ Hán trong cuốn sổ tay thường; đặc biệt viết bằng chữ Hán, không phải chữ Việt Nam, bởi vì tác giả hiểu rằng nếu viết bằng một thứ chữ nào mà nhà cầm quyền Trung Quốc hồi đó không hiểu thì những người cai tù sẽ tức giận và tăng thêm ngờ vực.
Suốt 13 tháng, Hồ Chí Minh bị cầm tù tại 30 nhà giam khác nhau và thường bị giải đi bộ từ 25 đến 30 dặm mỗi ngày mặc dầu vẫn bị xiềng xích, tối ngủ dưới đất nhà giam, cơm chỉ được ăn một nắm.
Nét đặc sắc trong thơ của Người là niềm tin tưởng và sự ung dung ngay cả trong nỗi bất hạnh không thể tin nổi. Trong một hoàn cảnh như vậy, Hồ Chí Minh vẫn rung cảm nồng nhiệt khi thoáng nhìn một cánh chim chiều hoặc chợt nhận thấy hương thơm của hoa rừng lúc sẩm tối hoặc khi Người thấy một cảnh núi xa mờ, những cảnh sống bình thường nơi thôn xóm-cô gái quê đang xay ngô, tiếng sáo trẻ chăn trâu, ngọn khói lam chiều.
Đây là những sắc thái của đời sống tù đầy: chấy, rận, ghẻ lở, trộm cắp, đói khát, sự tàn ác của cai tù, gông cùm, sự lạnh giá, sự thiếu thốn mọi tiện nghi, mùi hôi thối.
Tuy nhiên, mặc dù tất cả những điều đó, tinh thần Con Người vẫn chiến thắng: Mặc dầu bị trói chân tay/Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng và Nghĩ mình trong bước gian truân/Tai ương rèn luyện, tinh thần thêm hăng.
Ai đã đọc Nhật ký trong tù cũng đều nhận thấy sự có mặt của một nhân vật kết hợp được con người nhân vật đó chất thép và tình cảm.
Có những lúc buồn bực: Wendell Willkie(3) được chào mừng nồng nhiệt tại Trùng Khánh trong khi Hồ Chí Minh mòn mỏi chốn lao tù mặc dầu cả hai đều thi hành những công tác tương tự.
Có khi, cả năm, Hồ Chí Minh không nhận được một chữ gì từ Đông Dương và lòng Cụ nặng trĩu đau buồn.
Nhưng Người luôn luôn có thể mỉm cười, một nụ cười bí ẩn của sự hứa hẹn.
Hồ Chí Minh thường nhạy cảm và thông cảm với các bạn tù. Cụ ghi lại cái chết do đói khát của một người chơi bạc bị bắt giam, viết một lá đơn thỉnh cầu cho một người bạn tù mù chữ, an ủi người vợ một kẻ đào ngũ, cám ơn những người phu sửa đường khốn khổ đã san bằng con đường trên đó Cụ liên tục bị giải đi.
Trong con người Hồ Chí Minh, ta thấy rõ không chỉ đơn thuần trí tuệ của một nhà tổ chức cách mạng, một người luôn cổ vũ, hô hào, một chuyên gia về tổ chức chính trị mà còn là một nhà thơ-triết học theo truyền thống vĩ đại của châu Á, một con người có khả năng đi ngắm cảnh khắp các rặng núi khắc nghiệt của miền Nam Trung Hoa, lội qua sông, rồi sụp xuống vì kiệt sức trong những túp lều đầy chấy rận mà vẫn mỉm cười khi gió thổi qua cành cây và khi mặt trời chìm dần xuống xa mờ chân núi.
Cụ đã viết: Người cùng vạn vật đều phơi phới/Hết khổ là vui, vốn lẽ đời.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không chỉ là nhà thơ trữ tình của thiên nhiên. Cụ còn là một nhà thơ-kiểu mới. Ngoài tuyết và hoa, sương và núi, Hồ Chí Minh còn làm cả những bài thơ “bao gồm cả sắt và thép”.
Cụ viết: Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Chính vì vậy, đúng như Cụ đã ghi lại: Người thoát khỏi tù, ra dựng nước/Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay/Người biết lo âu, ưu điểm lớn/Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay.
Có lẽ với bài thơ bảy chữ tám câu (thất ngôn tứ tuyệt) luật Đường này, Hồ Chí Minh đã viết văn bia cho chính Người-một nhà thơ với tâm hồn một con rồng.
Có lẽ, đó là di sản mà Người để lại cho một thế hệ cách mạng cả trong nước lẫn ngoài nước. Di sản ấy chính là sự nhận thức được rằng bên trong cái tầm thường nhất và bên trong cái mong manh nhất của con người, vẫn ẩn giấu một thứ vũ khí hiệu quả hơn, hùng mạnh hơn, to lớn hơn tất cả các loại phương tiện kỹ thuật tối tân nhất và khủng khiếp hơn cả bom nguyên tử, rắn chắc hơn cả loại thép tốt nhất. Đó là tinh thần Con Người.
Chừng nào tia sáng ấy của tinh thần Con Người do Hồ Chí Minh tạo ra còn rọi chiếu thì chừng đó, tia sáng ấy không một lực lượng nào có thể chiến thắng nổi.
NHẬT HOA KHANH (dịch)
(*) Đầu đề của báo Quân đội nhân dân
(1) OSS: Tổ chức tiền thân của cơ quan CIA (Mỹ) ngày nay. (Chú thích của ND).
(2) Tác giả lầm. Không phải gần ba mươi năm, mà là đúng ba mươi năm. (Chú thích của ND).
(3) Wendell Willkie: đại diện của Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt hồi chiến tranh thế giới lần thứ hai (Chú thích của ND).