Một đời gắn bó với mây, tre
Theo Quốc lộ 6 từ Hà Nội đến xã Phú Nghĩa, chúng tôi rẽ phải để về thôn Phú Vinh. Dừng nghỉ chân và hỏi thăm đường về nhà Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh ở quán nước đầu thôn, anh Nam-chủ quán nhiệt tình bảo: “Các bạn đi thẳng tiếp đến xóm Hạ, rẽ trái ở ngã ba đầu tiên là đến Cơ sở sản xuất mây, tre đan Việt Quang. Đó là doanh nghiệp của nhà ông Tĩnh”.
Qua câu chuyện thân mật với anh Nam và người dân địa phương, chúng tôi hiểu thêm về đất và người Phú Vinh. Xưa kia, Phú Vinh là vùng chiêm trũng với những rặng tre xanh bên các con đường làng và bờ ao. Từ tháng 3 đến tháng 6 hằng năm, nước về trắng đồng. Để mưu sinh, người dân trong làng học nghề đan lờ, đó, nơm, giỏ... để bắt cá. Tiếp đó, người dân mày mò học hỏi để đan các vật dụng sinh hoạt trong gia đình như: Rổ, rá, nong, nia, thúng, mủng, giần, sàng...
 |
Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh (bên phải) giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây, tre đan.
|
Đến đầu thế kỷ 19, người dân Phú Vinh tận dụng sự dẻo dai, mềm mại của cây mây để sản xuất ra nhiều sản phẩm mỹ nghệ cao cấp và trở thành làng nghề mây, tre đan Phú Vinh... Trong số những người thợ tài hoa đó có gia đình ông Tĩnh nổi tiếng ở làng nghề với 3 đời là nghệ nhân. Các sản phẩm mây, tre đan mỹ nghệ của gia đình ông Tĩnh tinh xảo, đẹp và chất lượng.
Tại cơ sở sản xuất mây, tre đan Việt Quang, ông Tĩnh đang tận tình hướng dẫn, chỉ bảo những người thợ thực hiện các khâu trong quá trình sản xuất. Gặp chúng tôi, ông vui vẻ cho biết: "Sản phẩm mỹ nghệ vừa đòi hỏi sự khéo léo của người thợ, vừa đòi hỏi lòng yêu nghề, sự tỉ mỉ, công phu trong từng công đoạn sản xuất như: Chọn mây, tre; sơ chế nguyên liệu; ngâm; phơi khô, hun khói tạo màu; chẻ nan... Những đòi hỏi khắt khe và tỉ mỉ trong nghề chính là đạo đức, chữ tín của cơ sở dành tặng khách hàng. Đây là điều tôi học tập được ở cụ thân sinh-Nghệ nhân Nguyễn Văn Khiếu, người đầu tiên ở Việt Nam đan chân dung Bác Hồ bằng mây, tre”.
Tham quan gian trưng bày, chúng tôi nhận thấy hàng chục loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây, tre đan đều có nét chung, đó là chất lượng cao hòa quyện với vẻ đẹp tinh tế, sắc màu và đường nét hài hòa. Chỉ cho chúng tôi xem chiếc giỏ tích đan mây, tre được bảo quản cẩn thận trong tủ kính, ông Tĩnh nhớ lại: "Đây là kỷ vật của cụ thân sinh nhà tôi. Nó có tuổi đời gần 60 năm rồi đấy".
Tuy có tuổi đời gần 60 năm nhưng chiếc giỏ tích mây, tre đan vẫn còn như mới. Màu trắng ngà của nan mây phối hợp hài hòa với màu đen của nan tre tạo nên những họa tiết tinh xảo, đẹp đẽ. Gần 60 năm cũng là khoảng thời gian mà ông Tĩnh thức cùng mây, tre và thở trong hương mây, tre. Khi 5 tuổi (năm 1969), khác với bạn bè cùng trang lứa đang tuổi ăn, tuổi chơi, cậu bé Tĩnh được người bố truyền nghề chẻ, chuốt nan tre, nan mây; rồi được cho đi theo dự các hoạt động nhân dịp vinh danh, tuyên dương như: Đi thăm Lăng Bác; gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng...
Những lần đó, ông Tĩnh cảm nhận được niềm vinh dự, tự hào, từ đó góp phần thắp sáng tình yêu và lửa nghề gia truyền; tạo nguồn sức mạnh tinh thần, nhiệt huyết để ông học tập, luyện rèn, hoàn thiện hơn kỹ thuật đan mây, tre.
Năm 11 tuổi, ông Tĩnh đã nắm vững kỹ thuật đan hoa văn: Nong mốt, nong đôi, hình xương cá, mắt cáo, lục giác... và cả kỹ thuật tết hoa văn. Ông có thể giúp cha đan giỏ tích, lồng bàn, tráp đựng trầu hay các linh vật... 16 tuổi, ông Tĩnh bắt đầu thay cha gánh vác việc mưu sinh của gia đình. Nhờ có chất lượng và độ tinh xảo cao, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây, tre đan của gia đình ông ngày càng được ưa chuộng, đơn đặt hàng ngày càng nhiều.
Ông Tĩnh mở rộng sản xuất, truyền nghề cho nhiều gia đình để cùng phát triển kinh tế. Tiếp đó, ông được giới thiệu vào tổ kỹ thuật của Hợp tác xã mây, tre đan Phú Vinh và được cử đi học lớp bồi dưỡng thiết kế dạy cho thợ giỏi của các làng nghề. Nhờ vậy, ông càng có thêm kinh nghiệm. Các sản phẩm do bàn tay ông làm ra không chỉ là sản phẩm thủ công mà còn được thổi hồn thành tác phẩm nghệ thuật hội tụ tình yêu nghề, kỹ thuật, vẻ đẹp và văn hóa truyền thống của dân tộc.
“Nghề thủ công mỹ nghệ lúc thịnh, lúc suy. Có thời gian tôi suýt phải bỏ nghề đấy”, thoáng chút trầm ngâm, ông Tĩnh chia sẻ. Đầu thập niên 1980, trong tình hình khó khăn chung, các sản phẩm mây, tre đan vừa bị cạnh tranh, vừa mất thị trường xuất khẩu sang Đông Âu và Liên Xô nên cả làng bỏ nghề đan mây, tre. Ông Tĩnh phải chuyển sang làm ruộng, buôn rau, bán dưa, cà muối... để mưu sinh.
“Mỗi lần nhìn thấy giỏ tích cụ thân sinh để lại, trong tôi trào dâng cảm xúc, nghẹn ngào vì nhớ đến hình ảnh cụ dạy bảo tôi và sự tiếc nhớ một thời phồn thịnh của làng nghề mây, tre đan Phú Vinh”, ông Tĩnh xúc động kể.
Trăn trở giữ nghề
Đau đáu với nghề, năm 1991, ông Tĩnh rời quê đi đan mây thuê ở Hà Nội và nhiều địa phương. Quá trình làm thuê đã giúp ông tìm được đường đi để hồi sinh nghề đan mây, tre mỹ nghệ: Đó là phải liên kết mở rộng thị trường; vừa bảo đảm chất lượng, độ tinh xảo, vừa bảo đảm tính đa dạng của sản phẩm-phải làm đẹp nhất có thể, khi nào khách hàng hài lòng mới thôi.
Năm 1999, ông Tĩnh trở về quê hương Phú Vinh để hồi sinh nghề đan mây, tre truyền thống. Bàn tay người thợ tài hoa đã tạo ra các sản phẩm danh tiếng: Năm 2024, tác phẩm đan hoa văn lên bình gốm của ông đoạt giải khuyến khích cuộc thi sản phẩm thủ công Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường); năm 2005, ông đoạt giải nhì cuộc thi này với sản phẩm giỏ hoa; năm 2006, sản phẩm đèn treo của ông đoạt giải nhất giải thưởng sáng tạo kiểu dáng sản phẩm “Golden-V” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) trao tặng... góp phần đưa mây, tre quay về "đánh thức" làng nghề đang say ngủ và quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây, tre đan ra thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, doanh nghiệp Việt Quang sản xuất hơn 200 mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây, tre đan và nhận được nhiều đơn đặt hàng từ các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Mỹ...
Bên cạnh thành công góp phần hồi sinh nghề thủ công mỹ nghệ mây, tre đan, ông Tĩnh đã truyền dạy và đào tạo thành công cho hai con trai là Nguyễn Văn Bình và Nguyễn Phương Quang nối nghiệp truyền thống gia đình, được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú của làng nghề mây, tre đan Phú Vinh. Đồng thời, cơ sở sản xuất của ông tạo việc làm cho hàng trăm lao động ở địa phương.
Chị Nguyễn Thị Tuyền, thôn Phú Vinh, một trong những người thợ chính, tâm sự: Trước kia tôi ở nhà nội trợ. Để phụ giúp kinh tế gia đình, tôi xin làm việc ở doanh nghiệp Việt Quang. Bác Tĩnh luôn tận tâm hướng dẫn và đối xử với chúng tôi như người thân trong gia đình, vừa dạy bảo kỹ thuật đan mây, tre, vừa quan tâm, sẻ chia khó khăn của những người lao động trong doanh nghiệp”.
Ông Tĩnh luôn đau đáu bởi trong những tháng năm làng nghề hưng thịnh, nhiều người ở Phú Vinh là những người thợ tài hoa, góp phần đưa nghề đan mây, tre của địa phương vào những câu ca dao, tục ngữ, nhưng hiện nay, nghề đang ngày càng mai một. Thậm chí, trong tương lai không xa, nghề đan mây, tre có thể bị thất truyền do thu nhập của thợ thủ công thấp và chưa có sự quan tâm, đầu tư đúng mức của các cơ quan chức năng, chưa khơi dậy được ngọn lửa đam mê từ lớp trẻ để giữ gìn và phát triển nghề của cha ông.
Ông Tĩnh cho biết: "Tôi cũng nhiều lần kiến nghị, đề xuất lên các cấp chính quyền và cơ quan chức năng, ví như, đẩy mạnh việc giáo dục truyền thống của làng nghề, tổ chức các chương trình học ngoại khóa về nghề đan mây, tre cho học sinh các trường trên địa bàn; chính quyền, đoàn thể địa phương phối hợp cùng gia đình tạo việc làm cho các em học sinh vào dịp nghỉ hè để có thêm kinh phí trong học tập; xây dựng chế độ, chính sách ưu đãi cho các nghệ nhân, thợ thủ công (có nhiều nghệ nhân sau khi được phong tặng vì không có chế độ và điều kiện hoạt động nên cũng không còn làm nghề)... Đây là biện pháp bền vững giúp nghề thủ công mỹ nghệ mây, tre đan Phú Vinh được lưu giữ, góp phần làm phong phú các giá trị di sản văn hóa sống động và sự khéo léo của người Việt".