Đi qua những cung đường ngoằn ngoèo dọc Quốc lộ 20 ra vùng ngoại ô Đà Lạt, anh bạn đồng nghiệp làm báo lâu năm tại Lâm Đồng đánh tay lái cho xe nép vào vách đá dưới chân núi mờ sương, quay sang bảo tôi: “Tiết trời lành lạnh thế này, em đưa bác ghé không gian quá khứ một thoáng cho tâm hồn lắng đọng!”.

“Không gian quá khứ” theo lời anh nói, là những nếp nhà bên sườn một thung lũng rậm rì, với những khoảnh rừng gợi cảm giác hoài cổ. Các nếp nhà cũng được quy hoạch, sắp xếp đậm phong cách hoài niệm. Vừa bước xuống xe, anh bạn tôi liền cất tiếng gọi: “Anh Minh! Anh Minh!”. Phía trước con đường nhỏ dẫn xuống thung lũng, một người đàn ông vóc dáng gầy gò bước lên, xởi lởi: “Mấy hôm nay Đà Lạt mưa, đang buồn lại có khách đến chơi, thật là quý hóa!”.

Cao Văn Minh, chủ nhân của không gian hoài cổ này là người Mộ Đức, Quảng Ngãi, sinh năm 1962. Năm 2 tuổi, ông được bố mẹ dẫn lên Đà Lạt sinh sống nên con người ông, từ vóc dáng, giọng nói đến tính cách đều rặt chất Đà Lạt. Xứ sở sương mù và tình yêu nghệ thuật, trân quý những giá trị lịch sử, văn hóa đã tạo nên tâm hồn, tính cách rất riêng của người đàn ông này. Giọng nói nhỏ nhẹ, phát âm chậm rãi, phong cách nói chuyện từ tốn, khiêm nhường, vậy nhưng khi bàn về các vấn đề lịch sử, văn hóa, ông lại khiến người đối diện nể trọng bởi lượng kiến thức thâm sâu, tầm hiểu biết rộng. “Tôi yêu Đà Lạt và rất khó để lý giải vì sao. Tôi nghĩ, đó là nhân duyên”. Ông Cao Văn Minh nói và dẫn chúng tôi tham quan căn nhà chính, kiểu “tân cổ giao duyên”.

Toàn bộ kết cấu phần gỗ là kiểu nhà cổ Tây Nguyên, nhưng phần khung kính và các thiết bị bảo vệ, trang trí lại là sản phẩm văn minh công nghiệp. Ông Minh sử dụng căn nhà này làm khu trưng bày các hình ảnh, hiện vật về văn hóa Đà Lạt. Tổng số có đến hàng nghìn hình ảnh, hiện vật. Có những thứ là hiện vật gốc, cũng có những thứ do ông phục chế, sao chép, được trưng bày theo từng mảng chủ đề. Trong cái lạnh se se của đất trời ảo mờ sương khói, những tầng vỉa trầm tích thời gian của Đà Lạt trăm năm như những trang sử được lật lên rất khẽ, đưa người xem trở về quá khứ, chạm vào ký ức. Ở đó, chúng tôi thấy rõ những cỗ máy công nghiệp đầu tiên trên vùng đất này, khi người Pháp xây dựng tại đây nhà máy chè vào đầu thế kỷ 20; hình ảnh những đầu kéo xe lửa chạy bằng hơi nước; những con đường thổ mộ dưới tán rừng thông trầm mặc...

Ông Cao Văn Minh (bên phải) và khách tham quan trong “bảo tàng” của mình. Ảnh: VŨ ĐÌNH ĐÔNG

Trong bộ sưu tập của ông Cao Văn Minh có cả những vật dụng bé xíu như cái kim, sợi vải, đồng tiền âm dương... cho đến những vật dụng, công cụ lao động của người Đà Lạt xưa như gùi, cồng chiêng, cung, nỏ, roi ngựa, xe ngựa... Cách trưng bày đầy dụng ý của ông giúp người xem thấy rõ văn hóa Đà Lạt xưa chịu ảnh hưởng sắc thái của người Pháp, nhưng tất cả những thứ du nhập từ bên ngoài không làm thay đổi cái lõi văn hóa bên trong đậm đà bản sắc Tây Nguyên. Đó cũng chính là thông điệp ông Minh muốn nhắn gửi tới khách tham quan, người Tây Nguyên, người Đà Lạt qua các thế hệ, luôn biết “gạn đục khơi trong” để làm giàu đẹp, phong phú hơn vốn văn hóa đặc sắc của mình. Trong xu thế công nghiệp hóa, đô thị hóa, giữ được bản sắc, hồn cốt Đà Lạt là một thách thức không nhỏ. Để Đà Lạt mãi mang vẻ đẹp sâu lắng đặc trưng đòi hỏi ý thức văn hóa của tất cả mọi người. Hãy yêu Đà Lạt bằng sự trân quý, bằng sự nhẹ nhàng, thấu cảm và luôn nói không với những hành vi can thiệp thô bạo vào thiên nhiên và di sản...

“Các anh biết tại sao tôi yêu vị trà Đà Lạt và trân quý những hình ảnh này không?”, ông Minh hỏi khi chúng tôi ngắm nghía bức ảnh chụp cảnh công nhân lao động tại Nhà máy Chè Cầu Đất. Theo ông Cao Văn Minh, bức ảnh này được người Pháp chụp khoảng 100 năm trước. Không đợi chúng tôi trả lời, ông nói tiếp:

- Đó là vì ba mẹ tôi từng làm công nhân ở nhà máy này từ khi tôi còn bé xíu. Tôi lớn lên bên gốc chè, thấm đẫm sự nhọc nhằn của đấng sinh thành trên mỗi bước đường đời. Cầu Đất là nhà máy chè đầu tiên ở Đông Nam Á, được người Pháp xây dựng từ năm 1927. Bây giờ, nơi ấy đã thành di tích lịch sử-văn hóa, có bảo tàng phục vụ khách tham quan. Mỗi lần về thăm lại, đứng dưới những gốc cây chè cổ có tuổi đời khoảng 100 năm, tôi lại thấy ngậm ngùi...

Nghe ông Minh tâm sự, chúng tôi hỏi:

- Có phải khu vườn này là nơi lưu giữ những ký ức của gia đình ông?

- À không! Đây lại là một câu chuyện khác, cũng bắt đầu từ một cơ duyên với Đà Lạt. Mời các anh đi theo tôi...

Ông Minh dẫn chúng tôi đi vòng ra phía hông nhà. Ngôi nhà tựa lưng vào vách núi, phía trước và bên hông là thung lũng rừng xanh. Trong màn sương bảng lảng của không gian cuối chiều, khoảng rừng trước mắt như thẫm hơn, sâu hơn, gợi nhớ hơn. Chúng tôi theo ông Minh chầm chậm bước xuống thung lũng. Giữa những khoảnh rừng, không biết từ bao giờ, ông Minh lấy gạch đá ghép lại thành đường, lấy cây buộc thành lan can, rất tỉ mẩn...

Bước qua tán rừng ẩm ướt, một con suối lộ ra. Nhìn dáng ông lom khom dẫn đường, thỉnh thoảng lại nhắc chúng tôi bước cẩn thận, càng hiểu thêm tâm huyết và tình yêu Đà Lạt trong ông cũng lắng sâu như dòng suối vậy. Bước dọc con suối một đoạn nữa, ông Minh đưa chúng tôi đến một con đường hầm hun hút, đúc bằng bê tông xuyên núi. Đó là di tích đường hầm Hỏa Xa. Chúng tôi đã nghe, đã đọc, nhưng chưa từng đặt chân tới. Trải qua hàng trăm năm, con đường xe lửa răng cưa, đầu kéo chạy bằng hơi nước nối liền Đà Lạt với Phan Rang-Tháp Chàm... chỉ còn lại những dấu tích này. Và nó là một phần ký ức của người Đà Lạt, gắn liền với vùng chè Cầu Đất, lặng lẽ, trầm mặc giữa núi rừng mờ sương. Toàn tuyến có 5 đường hầm. Nơi ông Cao Văn Minh ở và tình nguyện làm người canh hầm Hỏa Xa thuộc khu vực cửa hầm số 4. Hệ thống đường hầm Hỏa Xa mang vẻ cổ kính, hoang sơ và có chút gì đó rất ma mị, gợi trí tò mò, khám phá. “Chừng 10 năm trước, tôi đến đây và ngay lập tức tâm trí bị đường hầm này hút vào. Tôi bán tài sản, mua mảnh đất rừng này, xây dựng nơi đây thành “điểm dừng chân hầm Hỏa Xa”. Tôi muốn du khách, nhất là giới trẻ hiểu Đà Lạt sâu hơn, yêu Đà Lạt nhiều hơn từ những di sản này. Nó giúp chúng ta chạm vào lịch sử để thấu hiểu hơn đất và người Đà Lạt”, ông Minh nói về cơ duyên đưa mình đến với công việc và niềm đam mê hiện tại.

Trở lại ngôi nhà được ví như một “bảo tàng” về Đà Lạt, ông Minh pha trà mời chúng tôi. Hương vị trà Cầu Đất-Đà Lạt có người thích, người không, nhưng thưởng trà bên cạnh một người mê trà và yêu Đà Lạt như ông Minh thì không thể nói là không thích. Chúng tôi ngạc nhiên và thích thú khi nhìn thấy trong một góc “bảo tàng”, ông sắp xếp ngay ngắn những vật dụng của một quân nhân, như ba lô, quân phục, mũ cối, bi đông, vỏ đạn... Tất cả đã nhuốm màu thời gian. “Hình như bác từng là quân nhân?”, anh bạn tôi hỏi. Ông Minh nói:

- Tôi là một cựu chiến binh, có nhiều năm chiến đấu, làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia. Những hiện vật này là một phần ký ức đời quân ngũ của tôi.

Năm 1982, gác lại dự định đi học để làm viên chức nhà nước, Cao Văn Minh nhập ngũ vào Tỉnh đội Lâm Đồng. Sau thời gian huấn luyện, ông lên đường sang Campuchia, chiến đấu tại Mặt trận 479. “Trên chiến trường ác liệt, may mắn của tôi là đạn nó tránh mình nên được trở về an toàn. Đồng đội tôi hy sinh nhiều lắm. Nhiều đồng chí đến nay chưa tìm được hài cốt”, ông Minh tâm sự.

Năm 1987, Cao Văn Minh về nước, được tổ chức bố trí công tác tại Ty Thủy lợi Lâm Đồng, làm đội trưởng đội thi công. Quá trình chiến đấu, công tác giúp ông có điều kiện thâm nhập sâu vào đời sống Đà Lạt. Việc sưu tầm, gìn giữ hồn cốt Đà Lạt bén duyên từ đó. Nhiều người biết đến ông đã cung cấp thông tin, có người còn hiến tặng hiện vật để ông trưng bày, phục vụ khách tham quan.

Tạm biệt “điểm dừng chân hầm Hỏa Xa” của ông Cao Văn Minh, anh bạn tiếp tục đưa tôi lượn một vòng ngoại ô Đà Lạt. “Xứ sở này có rất nhiều điều kỳ diệu ẩn sau màn sương mờ huyền ảo và cũng có nhiều giá trị cao quý ẩn sau vẻ ngoài bình dị. Đó là những nét chấm phá làm nên một Đà Lạt sâu lắng, lãng mạn và khó quên...”. Anh bạn tôi cảm thán thế! Còn tôi thì nghĩ, trong những nét chấm phá anh vừa nói, tôi điền thêm tên một người: Cao Văn Minh!